Theo ḍng thời sự ngày 03/3/2026

 

 

Quốc Hội Mỹ có thể đ́nh chỉ cuộc can thiệp quân sự của Trump tại Iran không?

 

Quân đội Mỹ lần thứ hai tấn công Iran kể từ khi Donald Trump trở lại nắm quyền. Cuộc chiến khai màn hôm thứ Bảy, 28/02/2026, và có thể kéo dài nhiều tuần lễ. Ngay sau khi chiến tranh bùng nổ, nhiều nghị sĩ Mỹ đă cực lực chỉ trích tổng thống Trump tự động gây chiến mà không thông qua Quốc Hội, là định chế duy nhất, theo Hiến pháp Mỹ, có quyền quyết định tiến hành chiến tranh.

 

Trọng Thành

 

Trụ sở Quốc Hội lưỡng viện Mỹ, đồi Capitol, Washington, Mỹ, ngày 30/09/2025. AP - J. Scott Applewhite

 

Quốc Hội Mỹ đă phản ứng ra sao về cuộc can thiệp quân sự này?

 

Việc tổng thống Trump bất ngờ ra lệnh tấn công Teheran diễn ra chỉ ít ngày trước khi Hạ Viện và Thượng viện, nơi đảng Cộng Ḥa chiếm đa số sít sao, dự trù ​​chính thức tranh luận về hành động quân sự của Mỹ tại Iran. Dân biểu Ro Khanna, đảng Dân Chủ, khẳng định, hành động của tổng thống Trump « là một cái tát vào mặt Quốc Hội Mỹ. Tổng thống đă phát động một cuộc chiến bất hợp pháp khi không có bất cứ mối đe dọa cận kề nào. Ông Trump đă không tham khảo ư kiến ​​Quốc Hội, điều mà ngay cả (tổng thống đảng Cộng Ḥa) George W. Bush từng làm ».

 

Dân biểu đảng Cộng Ḥa Thomas Massie phản đối chiến tranh, và nhấn mạnh « Hiến Pháp giao phó quyền tuyên chiến cho Quốc Hội «. Thượng nghị sĩ đảng Cộng Ḥa Rand Paul, khẳng định « sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi phản đối một cuộc chiến tranh khác của tổng thống ». Dân biểu Cộng Ḥa Warren Davidson, cựu biệt kích quân, thành viên của Ủy ban Đối ngoại Hạ Viện cũng cho biết dứt khoát phản đối cuộc chiến này, và khẳng định việc tiến hành chiến tranh cần được Quốc Hội cho phép.

 

Lư do Iran là mối đe dọa cấp bách với an ninh quốc gia thường được tổng thống Trump viện dẫn để biện minh cho một sự can thiệp quân sự. Cũng trong ngày 28/02, nghị sĩ Chuck Schumer, lănh đạo thiểu số Dân Chủ ở Thượng Viện ra một thông cáo chỉ trích Ṭa Bạch Ốc « không cung cấp cho Quốc Hội và người dân Mỹ những chi tiết quan trọng về phạm vi và tính cấp bách của mối đe dọa ». Lănh đạo phe thiểu số yêu cầu hành pháp báo cáo với Quốc Hội trong các cuộc họp kín, cũng như phát biểu công khai trước toàn dân về vấn đề này. Trước « sự đă rồi », ông Chuck Summer yêu cầu Quốc Hội họp khẩn để thông qua một nghị quyết về « Thẩm quyền Tiến hành Chiến tranh » (War Powers).

 

Tuy nhiên, cuộc can thiệp quân sự chống chế độ Hồi giáo Iran của tổng thống Trump dường như đă không gây phản đối mạnh mẽ trong hàng ngũ đảng Cộng Ḥa. Theo nhiều nguồn tin của đài Mỹ CNN, ba nghị sĩ Cộng Ḥa nói trên (Massie, Paul và Davidson), « có thể đang đơn độc ». Một nghị sĩ Cộng Ḥa xin ẩn danh cho biết đă nhận được các báo cáo mật (classified briefings) về chiến dịch này, đồng thời kịch liệt phản bác quan điểm cho rằng ông Trump đang dẫn nước Mỹ vào một xung đột tương tự như cuộc Chiến tranh Irak, từng khiến Trung Đông rơi vào ṿng xoáy bạo lực lâu dài. Hàng chục nghị sĩ Cộng Ḥa đă ngay lập tức ca ngợi hành động của tổng thống Trump, trong đó có chủ tịch Hạ Viện Mike Johnson và lănh đạo phe đa số ở Thượng Viện John Thune. Thượng nghị sĩ Lindsey Graham, đảng Cộng Ḥa, cho biết » theo dơi sát chiến dịch lịch sử này » và « rất ngưỡng mộ quyết tâm của tổng thống Trump ».

 

Hiến Pháp Mỹ: Chỉ có Quốc Hội mới được phép tuyên chiến

 

Nhật báo Pháp Le Figaro có bài tổng hợp đáng chú ư về « Thẩm quyền tiến hành chiến tranh » của Quốc Hội Mỹ (ngày 01/03/2026),  mang tựa đề « Aux États-Unis, pourquoi le président peut décider seul de déclarer la guerre? » (Ở Mỹ, tại sao cá nhân tổng thống có thể quyết định tuyên chiến?). Theo Hiến Pháp Hoa Kỳ, về nguyên tắc, Quốc Hội Mỹ là định chế duy nhất có thẩm quyền chính thức tuyên chiến, theo Điều I của Hiến Pháp. Theo điều II, tổng thống là « tổng tư lệnh » của lực lượng vũ trang, chỉ có quyền tiến hành chiến tranh sau khi Quốc Hội tuyên chiến.

 

Alexander Hamilton, người có ảnh hưởng đáng kể đến việc soạn thảo Hiến Pháp cùng tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, James Madison, đă làm rơ sự khác biệt giữa quyền hạn tuyệt đối của Quốc vương Anh vào thời điểm đó và tổng thống Mỹ, tổng tư lệnh quân đội, chỉ như người đứng đầu quân đội và hải quân, chịu trách nhiệm thực thi quyết định của Lập pháp.

 

Năm 1941, một ngày sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng, tổng thống Franklin D. Roosevelt đă kêu gọi Quốc Hội tuyên chiến với đế quốc Nhật Bản. Quốc Hội lưỡng viện họp ngay sau đó tuyên chiến chống Nhật, và tiếp theo là chống Đức Quốc xă. Đây là lần cuối cùng Quốc Hội Mỹ chính thức tuyên chiến.  

 

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, cơ quan lập pháp Mỹ đă phê duyệt nhiều đạo luật về « Ủy quyền Sử dụng Lực lượng Quân sự » cho tổng thống (AUMF - Authorization for Use of Military Force), cho phép tổng thống tiến hành các hoạt động quân sự trong một số bối cảnh nhất định, mà không cần phải tuyên chiến, như trong các cuộc chiến vùng Vịnh hay Afghanistan.

 

Từ cuối thế kỷ 20, thẩm quyền chiến tranh của tổng thống Mỹ ngày càng mở rộng

 

Le Figaro dẫn lại nhận định của Scott Anderson, chuyên gia về chính trị quốc tế thuộc Viện Brookings cho thấy Hiến Pháp Mỹ đă không định nghĩa thế nào là « chiến tranh », điều mà Tối cao Pháp viện Mỹ gọi là « vùng xám » về mặt pháp lư.

 

Theo Scott Anderson, « những người soạn thảo Hiến Pháp vẫn chấp nhận tổng thống có quyền đáp trả bằng lực lượng quân sự trong trường hợp nước Mỹ bị tấn công hoặc bị đe dọa nghiêm trọng », và nhiều đời tổng thống Mỹ sau Đệ nhị Thế chiến « đă có xu hướng ngày càng mở rộng » quyền hạn này của tổng thống, được ghi trong Hiến Pháp, tạo điều kiện cho chính phủ có khả năng sử dụng dễ dàng hơn lực lượng quân sự ở nước ngoài nhân danh bảo vệ lợi ích quốc gia.

 

Hệ quả là, các tổng thống Mỹ có thể tự ḿnh quyết định tiến hành nhiều chiến dịch quân sự trên thực tế, mà không cần được Quốc Hội cho phép trước. Thay v́ tuyên bố chiến tranh, chính phủ Mỹ có thể rảnh tay huy động quân đội trong « các hoạt động ǵn giữ trật tự » hoặc « các cuộc can thiệp vũ trang ngắn hạn ». Nhiều đời tổng thống Mỹ đă vượt xa phạm vi ban đầu, mà các đạo luật Ủy quyền Sử dụng Lực lượng quân sự - AUMF của Quốc Hội cho phép, như trong các chiến dịch oanh kích ở Libya, Syria hay Somalia…

 

Năm 1973, vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam, Quốc Hội Mỹ đă ra một đạo luật để điều chỉnh việc sử dụng vũ lực ở nước ngoài (War Powers Resolution / Đạo luật Thẩm quyền Chiến tranh), nhằm cân bằng lại giao tiếp giữa Quốc Hội và hành pháp về các hoạt động quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Văn bản này, về nguyên tắc, nhằm hạn chế quyền lực của tổng thống, bằng cách yêu cầu Ṭa Bạch Ốc phải thông báo cho Quốc Hội trong ṿng 48 giờ về bất kỳ can thiệp quân sự nào và phải được Quốc Hội cho phép trong ṿng 60 ngày. Trên thực tế, với đạo luật này tổng thống Mỹ được giao phó quyền tự do gần như « tuyệt đối », đặc biệt sau một phán quyết của Ṭa án Tối cao năm 1983.

 

Quốc Hội rất khó bác quyết định của tổng thống 

 

Ngay sau khi Mỹ tấn công Iran, báo Washington Post viết  « cuộc tấn công này một lần nữa cho thấy tiếng nói của Quốc Hội Mỹ đang ngày càng trở nên không c̣n mấy trọng lượng «. Trước đây tổng thống George W. Bush đă từng phải chờ đợi 5 tháng trước khi phát động cuộc tấn công Irak năm 2003, để bảo đảm sự chấp thuận của Quốc Hội, giờ đây ông Trump đă bất chấp Quốc Hội khi phát động cuộc tấn công chống Iran hồi tháng 6/2025, chỉ sau vài ngày xem xét vấn đề với các cố vấn và chính phủ Israel, và phớt lờ Quốc Hội trong cuộc chiến chống Iran lần thứ hai.

 

Tổng thống Donal Trump hiện là lănh đạo hiếm hoi trong lịch sử nước Mỹ tập trung nhiều quyền lực đến như vậy trong khả năng tiến hành chiến tranh, đặc biệt trong bối cảnh phe Cộng Ḥa kiểm soát lưỡng viện và có đến 50% cử tri đảng Cộng Ḥa tán thành một chiến dịch can thiệp tại Iran, và 61% trong số cử tri theo phong trào MAGA (Nước Mỹ trên hết) (thăm ḍ dư luận của Politico, được tuần báo Pháp Le Point dẫn lại), vốn được coi là khối cử tri phản đối mạnh mẽ can thiệp quân sự Mỹ ở nước ngoài. 

 

Và với cuộc chiến này, ngay cả trong trường hợp đa số nghị sĩ tại Hạ Viện và Thượng Viện ra nghị quyết buộc tổng thống chấm dứt chiến dịch quân sự, th́ đây cũng mới chỉ là một quyết định mang tính « biểu tượng ». Lư do là phán quyết của Tối cao Pháp viện năm 1983, về Đạo luật Thẩm quyền Chiến tranh (War Powers Resolution năm 1973), vẫn cho phép tổng thống có quyền phủ quyết đối với quyết định yêu cầu tổng thống phải rút quân của Quốc Hội, và Quốc Hội lưỡng viện sẽ phải hội đủ hai phần ba số phiếu mới có thể bác được phủ quyết của tổng thống.

 

Lo ngại Ṭa Bạch Ốc phiêu lưu quân sự, Quốc Hội lưỡng viện Mỹ thu hồi Đạo luật AUMF 

 

Đạo luật Thẩm quyền Chiến tranh năm 1973 và các Đạo luật Ủy quyền Sử dụng Lực lượng Quân sự Mỹ AUMF là các đạo luật chủ yếu mang lại các quyền hạn rộng răi cho tổng thống. Tuy nhiên, hành xử độc đoán và phiêu lưu về quân sự của phe cầm quyền tại Ṭa Bạch Ốc cũng đang làm dấy lên các nỗ lực từ lưỡng đảng nhằm hạn chế quyền hạn của hành pháp. Đạo luật Ủy quyền Sử dụng Lực lượng Quân sự Mỹ (AUMF) năm 2002 đă từng được các đời tổng thống Mỹ dùng để tiến hành hơn 20 cuộc can thiệp quân sự ở nước ngoài, nhân danh « chống khủng bố », theo một tổng kết của Viện Watson Institute for international and public affairs, có trụ sở tại Mỹ.

 

Sau nhiều thúc đẩy của các nghị sĩ của cả hai đảng trong Quốc Hội, Đạo luật Ủy quyền Sử dụng Lực lượng Quân sự Mỹ (AUMF) năm 2002 và Đạo luật AUMF năm 1991, được ban hành trong Chiến tranh vùng Vịnh, cuối cùng đă được băi bỏ vào cuối năm ngoái. Tháng 10/2025, Thượng Viện băi bỏ với 77 phiếu thuận, 20 phiếu chống. Tháng 11, đến lượt Hạ Viện thông qua:  49 dân biểu Cộng Ḥa bỏ phiếu cùng toàn bộ dân biểu phe Dân Chủ.

 

Theo dân biểu Gregory Meeks, thành viên Ủy ban Đối ngoại, chủ tŕ dự luật xóa bỏ tại Hạ Viện, các đạo luật AUMF đă « lỗi thời », và đă đến lúc Quốc Hội giành lại quyền lực Hiến định đối với các vấn đề chiến tranh và ḥa b́nh, bằng cách loại bỏ các đạo luật AUMF không giới hạn này « một lần và măi măi », để khép lại « những cuộc chiến tranh bất tận ».

 

LẦN ĐẦU TIÊN QUỐC HỘI MỸ THU HỒI ĐẠO LUẬT AUMF

(Kể từ khi băi bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, năm 1971)

 

Việc Quốc Hội lưỡng viện Mỹ thu hồi hai đạo luật Ủy quyền Sử dụng Lực lượng Quân sự (AUMF), đă chính thức có hiệu lực kể từ ngày 18/12/2025, sau khi được tổng thống Trump kư ban hành trong khuôn khổ Đạo luật về tài chính quốc pḥng năm 2026 (National Defense Authorization Act). Theo nhận định của báo Roll Call, chuyên theo dơi hoạt động của Quốc Hội Mỹ từ năm 1955, đây là « lần đầu tiên » Quốc Hội Mỹ thu hồi một đạo luật ủy quyền tiến hành chiến tranh, kể từ khi băi bỏ nghị quyết Vịnh Bắc Bộ vào năm 1971 (*).

 

Vẫn theo Roll Call, đây là quyết định « quan trọng đầu tiên » của Quốc Hội liên quan đến « thẩm quyền tiến hành chiến tranh » (the first significant war powers measure) từ hơn 20 năm nay, tức từ khi Quốc Hội ủy quyền cho tổng thống (AUMF) tiến hành chiến tranh Irak hồi năm 2002. Chính AUMF 2002 đă được chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ nhất dùng làm cơ sở pháp lư của chiến dịch oanh kích giết tướng Soleimani, chỉ huy lực lượng hải ngoại của Vệ binh Cách mạng Iran năm 2020. 

 

Việc băi bỏ hai đạo luật AUMF nói trên được xem là giúp hạn chế các hành động lạm quyền của hành pháp tại khu vực Trung Cận Đông. Theo thượng nghị sĩ Dân Chủ Tim Kaine, người thúc đẩy việc băi bỏ, « đây là bước khởi đầu » cho việc Quốc Hội tiếp tục hướng đến nghiêm túc xem xét các hành động dùng vũ lực tùy tiện của Ṭa Bạch Ốc, trong đó có chiến dịch oanh kích bừa băi vào thuyền bè, bị cáo buộc chuyên chở ma túy, tại các vùng biển Caribê và Nam Thái B́nh Dương, mà Washington tiến hành từ nửa năm nay. Chiến dịch bị các chuyên gia Liên Hiệp Quốc lên án là « phi pháp » (đô đốc Alvin Holsey, tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại khu vực Mỹ Latinh đă từ chức do bất đồng với chính sách của Ṭa Bạch Ốc, ngày 12/12/2025). 

 

Đối với thượng nghị sĩ Tim Kaine, đông đảo các nghị sĩ Cộng Ḥa, do sợ tổng thống Trump, nên đă không dám công khai bỏ phiếu ủng hộ đối với các dự thảo nghị quyết giới hạn quyền can thiệp quân sự của tổng thống, cụ thể như trong vụ Venezuela.

 

Sau thành công nói trên, một nhóm nghị sĩ lưỡng đảng Mỹ đang tập trung nỗ lực thúc đẩy băi bỏ AUMF cuối cùng, được ban hành năm 2001, sau vụ tấn công khủng bố của Al-Qaida ngày 11/9/2001.

---

(*) Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ được Quốc Hội Mỹ ban hành năm 1964, lấy lư do quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tấn công chiến hạm Mỹ, để cho phép tổng thống Lyndon Johnson có toàn quyền can thiệp vào Đông Dương, mà Quốc Hội không cần tuyên chiến.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính