Cây da trước miễu.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Trong kho tàng ca dao Nam Bộ, có những câu nghe qua tưởng đơn sơ như lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhưng càng ngẫm lại càng thấy thấm thía. Một trong những câu như vậy là:

 

“Cây da trước miễu ai biểu cây da tàng?

Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu.”

 

Chỉ hai câu lục bát biến thể ngắn ngủi mà mở ra cả một khung trời quê cũ, với bóng cây, mái miễu, tiếng gió chiều và một mối tình âm thầm của người con gái miền sông nước.

 

Điều đáng chú ý trước hết là dấu ấn Nam Bộ rất đậm trong từng chữ.

 

Người miền Bắc nói “cây đa”, nhưng người miền Nam từ lâu vẫn quen gọi là “cây da”. Trong văn chương dân gian Nam Bộ, hình ảnh cây da xuất hiện rất nhiều: cây da đầu xóm, cây da bến nước, cây da trước đình, cây da trước miễu.

 

“Miễu” cũng là một từ thuần Nam Bộ. Đó là những ngôi miếu nhỏ nằm ven sông, đầu làng hay cạnh ngã ba đường, nơi dân quê thờ thần đất, thần sông hoặc những bậc tiền hiền có công với xóm làng.

 

Còn “biểu” là cách nói Nam Bộ của chữ “bảo”. Người Nam không nói “ai bảo”, mà nói “ai biểu”. Chỉ cần đổi “ai biểu” thành “ai bảo”, đổi “cây da” thành “cây đa”, câu ca lập tức mất đi cái giọng quê chân chất vốn có.

 

Bởi vậy, muốn giữ hồn vía nguyên thủy của câu ca dao này, không nên sửa đổi ngôn ngữ địa phương.

 

Nhân vật chính trong câu ca là cây da trước miễu.

 

Ở miền Nam ngày trước, cây da thường mọc ở những nơi linh thiêng. Bộ rễ chằng chịt, thân cây to lớn, tuổi thọ hàng trăm năm khiến người dân tin rằng cây mang linh khí của đất trời. Bóng cây phủ rộng như chiếc dù khổng lồ che nắng che mưa cho khách bộ hành.

 

Nhiều ngôi miễu làng được dựng ngay dưới tàng da. Trẻ con chơi đùa quanh gốc cây. Người lớn ngồi nghỉ chân. Khách thương hồ buộc ghe dưới bến. Bao nhiêu thế hệ đã đi qua rồi mất hút, chỉ có cây da còn đứng đó chứng kiến.

 

Chính vì vậy mà trong tâm thức người Nam Bộ, cây da không chỉ là một loài cây. Nó là nhân chứng của thời gian.

 

Câu hỏi: “Ai biểu cây da tàng?” thoạt nghe như một lời trách vu vơ.

 

Chữ “tàng” ở đây nên hiểu là tàng lá sum suê, cành lá rậm rạp. Nếu cây không nhiều lá thì lấy đâu ra lá rụng để so sánh với nỗi nhớ thương trong câu sau?

 

Người con gái như đang trách yêu: “Ai biểu cây mọc tốt làm chi? Ai biểu cây có quá nhiều lá làm gì?”

 

Nhưng thật ra không phải trách cây. Cũng như khi người ta nói: “Ai biểu anh tốt với em quá chi?” thì người bị trách không hề có lỗi. Đó chỉ là một cách nói vòng vo của tình yêu.

 

Đến câu thứ hai: “Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu.” thì toàn bộ nỗi lòng được hé mở.

 

Người xưa không biết dùng những con số lớn lao để diễn tả tình cảm. Họ không nói thương như biển rộng, nhớ như trời cao. Họ nhìn ngay vào cảnh vật chung quanh.

 

Lá cây rụng mỗi ngày. Mùa này qua mùa khác.

 

Chiếc này nối chiếc kia.

 

Không ai đếm nổi. Bởi vậy nỗi thương cũng không đếm nổi.

 

Đây là một lối diễn đạt rất Nam Bộ: chân chất mà sâu sắc, ít chữ mà nhiều tình.

Trong ca dao Việt Nam, thiên nhiên thường được dùng làm thước đo cảm xúc. Có người lấy nước sông đo nỗi nhớ. Có người lấy mưa nguồn đo nỗi đợi chờ. Riêng người con gái trong câu ca này lại lấy lá cây da để đo lòng thương.

 

Càng đơn giản càng cảm động. Đó là vẻ đẹp đặc biệt của văn học dân gian.

 

Nếu hai câu trên là lời yêu thương kín đáo thì một câu ca khác lại mang sắc thái bi thương hơn:

 

“Cây da trốc gốc trôi rồi,

Em xa người nghĩa đứng ngồi không yên.”

 

Cây da ngày thường tượng trưng cho sự bền vững. Nay cây bị “trốc gốc”, tức là bật gốc hoàn toàn rồi bị nước cuốn trôi.

 

Đó là hình ảnh của một cuộc chia ly không thể cứu vãn.

 

Người thương đã xa. Mối duyên đã lỡ. Điểm tựa cuối cùng cũng không còn. Trong chỉ hai câu ngắn ngủi, người bình dân Nam Bộ đã mượn một biến cố của thiên nhiên để nói lên một biến động lớn trong tâm hồn.

 

Nỗi đau ấy không cần nước mắt. Nó hiện ra qua hình ảnh cây cổ thụ bị dòng nước cuốn đi. Từ đó, người ta mới hiểu vì sao hình ảnh “cây da cũ, bến đò xưa” lại xuất hiện nhiều trong ký ức dân gian Nam Bộ.

 

Ngày trước, bến đò là trung tâm sinh hoạt của làng quê.

 

Người đi chợ xuống đò. Học trò qua sông bằng đò. Khách phương xa cập bến bằng đò. Bến đò cũng là nơi đưa tiễn và đón chờ. Vì vậy nơi đây thường có một cây da lớn để lấy bóng mát.

 

Bên cạnh cây da lại có một ngôi miễu nhỏ. Người ta tin thần linh sẽ phù hộ cho những chuyến đò bình an giữa mùa nước lớn.

 

Thế là cây da, miễu làng và bến đò trở thành một bộ ba không thể tách rời trong đời sống miền quê Nam Bộ.

 

Đó không phải là phong cảnh để ngắm. Đó là một phần đời sống. Đó là nơi chất chứa bao cuộc gặp gỡ, bao lần hò hẹn và bao cuộc chia ly. Đối với những người phải rời quê hương, nhất là lớp người Việt lưu lạc sau năm 1975, hình ảnh ấy lại càng mang sức gợi lớn lao. Người ta có thể mang theo quần áo, giấy tờ, tiền bạc. Nhưng không ai mang theo được cây da đầu xóm. Không ai mang theo được bến đò tuổi thơ. Không ai mang theo được mái miễu cũ dưới bóng chiều quê nội.

 

Chính vì vậy mà nhiều người sống nơi đất khách hàng chục năm vẫn nhớ một gốc cây, một bến nước hay một con đò nhỏ ở quê nhà. Những thứ ấy không ghi trong hộ chiếu, nhưng lại nằm sâu trong ký ức. Nó là quê hương. Nó là căn cước tinh thần. Nó là quốc tịch của trái tim.

 

Bởi vậy, khi đọc lại câu:

“Cây da trước miễu ai biểu cây da tàng?

Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu.”

 

ta hiểu rằng đây không chỉ là một câu ca dao tình yêu. Đó còn là bức tranh thu nhỏ của văn hóa Nam Bộ.

 

Trong đó có bóng cây da cổ thụ. Có ngôi miễu làng khiêm tốn. Có bến đò ven sông. Có người con gái quê kín đáo gửi nỗi lòng theo chiếc lá rơi. Và có cả một quê hương đang hiện lên sau từng con chữ. Để rồi nhiều năm sau, giữa phố thị đông đúc hay nơi đất khách quê người, chỉ cần nghe nhắc tới cây da trước miễu là lòng người bỗng chùng xuống, như vừa gặp lại một phần tuổi thơ đã mất.

 

Bởi có những thứ tưởng là cây cỏ vô tri, nhưng thật ra đã sống mãi trong ký ức dân tộc. Và chiếc lá rụng dưới tàng da năm nào vẫn còn rơi mãi trong lòng người Việt, như một đơn vị đo lường của nhớ thương và của những mối tình quê không bao giờ phai nhạt.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

* Mời đọc thêm bài: Cây da tàng hay cây da tàn?

 

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính