Thoi thóp Miền Châu Thổ.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Một ḍng sông bị bức tử, một vùng đất dân bị ép phải bỏ ra đi.

 

Sông Cửu Long, c̣n gọi là sông Lớn, sông Cái, khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, mang theo khối lượng phù sa khổng lồ để bồi đắp vùng châu thổ trù phú trước khi đổ ra Biển Đông bằng chín cửa. Bởi vậy mà tổ tiên ta gọi ḍng sông ấy là Cửu Long – chín con rồng, biểu tượng cho sự sung măn, phồn sinh và bền bỉ của miền đất cuối nguồn.

 

Từ Phnom Penh, sông Cửu Long chia làm hai nhánh lớn: Tiền Giang và Hậu Giang. Tên gọi mộc mạc ấy xuất phát từ bước chân lưu dân Ngũ Quảng vào Nam vào nửa sau thế kỷ XVII: gặp con sông lớn đầu tiên th́ gọi là Tiền Giang, gặp con sông lớn thứ hai th́ gọi là Hậu Giang – giản dị mà thấm đẫm tinh thần khai phá.

 

Trên sông Tiền có sáu cửa: Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Trên sông Hậu có ba cửa: Định An, Ba Thắc, Tranh Đề. Đó là h́nh hài nguyên thủy của chín con rồng xuôi ra biển lớn.

 

Thế nhưng lịch sử cận đại đă chứng kiến từng con rồng găy cánh.

 

Cửa Ba Thắc bị bồi lấp từ thập niên 1960, chỉ c̣n là một con rạch nhỏ mang tên Cồn Tṛn, nằm sâu trong cửa Tranh Đề. Rồi đến cửa Ba Lai, bị chặn đứng bởi hệ thống cống đập mang danh “ngọt hóa”. Cửu Long từ đó chỉ c̣n Thất Long – bảy cửa sông thông ra biển Đông.

 

Sự mất mát ấy không chỉ là địa lư. Đó là sự suy kiệt của cả một vùng sinh tồn.

 

Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long là nơi sinh sống của khoảng 17 triệu người dân. Vậy mà gần 2 triệu người đă buộc phải rời bỏ quê nhà, nước mắt lưng tṛng, đứt ruột ly hương. Rời bỏ “vùng mật ngọt” gạo trắng nước trong, ruộng đồng đầy tôm cá, để tha phương cầu thực.

 

Đàn ông lên B́nh Dương làm thuê cho các hăng xưởng Đài Loan, Nam Hàn. Phụ nữ trung niên đi làm osin tận Đài Loan, Trung Đông, có người sang tới cả Ả Rập Saudi. Phụ nữ trẻ, nếu có chút nhan sắc, th́ trở thành món hàng để “chú Chệt” lựa chọn, nắn bóp như lựa thú cưng. Thân phận người phụ nữ Việt Nam bị bức hiếp, bạo hành, tiếng kêu cứu tan biến trong cơi hư vô.

 

Câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Ai đang bức tử ḍng sông đă nuôi sống đồng bào ta bao đời?

 

Trước hết là Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, với các con đập khổng lồ ở Vân Nam, ngang nhiên khống chế thượng nguồn. Kế đến là Lào, xây liền chín đập thủy điện để bán điện cho Thái Lan. Campuchia cũng góp thêm hai đập. Hệ quả thấy ngay trước mắt: ḍng chảy bị bóp nghẹt, phù sa bị giữ lại, bờ sông sạt lở, nhà cửa trôi sông, bờ biển tan nát, nước mặn lấn sâu.

 

Ḍng sông là của chung. Không thể có chuyện sông chảy qua đất ai th́ người đó muốn làm ǵ cũng được.

 

Lịch sử nước ta từng có tiền lệ. Ông Thái Hữu Kiểm ở Ba Tri từng kiện lên tận vua Minh Mạng chỉ v́ một con rạch chung bị đắp đập ngăn ghe thuyền. Triều đ́nh phán quyết dỡ bỏ đập v́ “rạch là rạch chung, đường giao thông chung”. Đó là tư duy pháp lư tiến bộ của tiền nhân.

 

Vậy mà ngày nay, trước hành vi bá quyền của nước lớn, giới học giả và trí thức môi trường của ta lại im lặng. Ít nhất cũng phải đưa vấn đề này ra Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, để thiên hạ thấy rơ dă tâm Đại Hán mà dè chừng.

 

Chưa hết. Nội họa c̣n tàn khốc không kém.

 

Sau năm 1975, các “chuyên gia thủy lợi” CS miền Bắc mang nguyên mô h́nh đắp đê ngăn lũ sông Hồng áp vào vùng trũng Tứ giác Long Xuyên. Đê chặn nước để làm lúa ba mùa. Lúa th́ nhiều thật, nhưng đất th́ chết. Không c̣n lũ, không c̣n phù sa, đất cạn kiệt, phải bón phân hóa học, xịt thuốc sâu, tiền vốn cao mà giá lúa rẻ mạt, nông dân từ nghèo thành mạt.

 

Cao điểm là cống đập Ba Lai. Quan trên đánh trống thổi kèn ngăn mặn, giữ ngọt cho hàng trăm ngàn hecta đất. Dân Bến Tre mỉa mai bằng câu thơ chửi thề: “Ba Lai là cái cửa ḿnh. Trung ương đem lấp dân t́nh ngẩn ngơ!

 

Kết quả: sông Ba Lai ngừng chảy, biến thành hồ nước tù. Nước mặn vẫn mặn hơn xưa, nước ngọt th́ phải mua giá cắt cổ. Không tiền mua nước, dân khoan giếng ngầm sâu tới 80–120 mét, gây sụt lún, mặn xâm nhập nặng hơn. Nước tù ô nhiễm, cá trắng chết sạch, chỉ c̣n cá lóc, cá trê, cá rô phi. Dừa nước biểu tượng vùng nước lợ héo rũ rồi chết.

 

Bên trong cống, không c̣n nước lớn nước ṛng, lục b́nh phủ kín sông rạch. Dân phải phun thuốc diệt cỏ để c̣n đường thủy, càng làm nước độc thêm.

 

Các nhà khoa học nông nghiệp từng cảnh báo: đừng độc canh cây lúa, đừng ôm con tôm gh́ cây lúa cho cả hai cùng chết. Đừng ngăn mặn v́ nước mặn, nước lợ cũng là sinh kế. Nhưng tiếng nói ấy bị bỏ ngoài tai.

 

Người dân miền châu thổ xưa kia không cần nha khí tượng, nha địa chất, vẫn biết trời mưa nắng, biết đa canh, biết để lũ rửa phèn, diệt sâu, bồi phù sa. Lũ không phải tai họa, mà là ân huệ của thiên nhiên.

 

Ông bà ta đă dạy: “Nhứt phá sơn lâm, nh́ đâm Hà Bá.”

 

Phá rừng và bức tử ḍng sông là hai tội trời không dung đất không tha.

Ở các nước dân chủ phương Tây, đụng tới môi trường là đảng Xanh lôi cổ ra xử liền. Không ai dám làm ẩu như vậy.

 

Miền châu thổ đang thoi thóp. Không phải v́ trời, mà v́ người.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính