Từ George C. Marshall tới Donald J. Trump!

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Khi Franklin D. Roosevelt quyết định chọn Dwight D. Eisenhower làm Tổng tư lệnh chiến dịch D-Day, ông đă phải nói lời ấy với một người khác: George C. Marshall. Đó là người đă dành nhiều năm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lịch sử vào Normandy, người hiểu từng đơn vị, từng tuyến vận chuyển, từng kế hoạch nghi binh.

 

Marshall không tranh căi. Không vận động hậu trường. Không tỏ thái độ bất măn. Ông trở về bàn làm việc tại Washington và tiếp tục điều hành guồng máy chiến tranh.

 

 

Trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ, ít ai có khả năng tổ chức như Marshall. Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ ở Châu Âu năm 1939, quân đội Mỹ chỉ có khoảng 190.000 người, xếp sau cả Bồ Đào Nha về quy mô. Ba năm sau, dưới quyền Tổng tham mưu trưởng Marshall, lực lượng ấy đă vượt quá 8 triệu quân. Từ một đạo quân nhỏ bé thời b́nh, Hoa Kỳ đă trở thành cường quốc quân sự toàn cầu.

 

Marshall không chỉ tuyển mộ binh sĩ. Ông kiến tạo cả một hệ thống: chương tŕnh huấn luyện tiêu chuẩn hóa, mạng lưới tiếp vận xuyên đại dương, cơ chế phối hợp giữa lục quân, hải quân và không quân, và đặc biệt là cấu trúc liên minh với Anh và Liên Xô.

 

Chính Winston Churchill đă gọi ông là “người tổ chức chiến thắng”.

 

Thế nhưng, Marshall chưa từng trực tiếp chỉ huy một trận đánh lớn ngoài chiến trường. Ông làm việc phía sau bức màn, nơi những quyết định không có tiếng vỗ tay. Ông hiểu rằng chiến thắng không chỉ nằm ở mũi súng, mà ở khả năng huy động công nghiệp, tài chính và ư chí quốc gia.

 

Sau ngày chiến tranh kết thúc năm 1945, Châu Âu không c̣n là lục địa phồn thịnh. Thành phố bị bom san phẳng, đường sắt đổ nát, nhà máy ngưng hoạt động. Hàng triệu người thiếu ăn, thiếu nhiên liệu, thiếu niềm tin. Bóng đen chủ nghĩa cộng sản lan rộng trong bối cảnh đói nghèo và hỗn loạn.

 

Ngày 5 tháng 6 năm 1947, tại lễ tốt nghiệp của Đại học Harvard, Marshall – lúc ấy là Ngoại trưởng Hoa Kỳ – đọc một bài diễn văn chỉ vỏn vẹn mười một phút. Không kèn không trống. Không loan báo rầm rộ. Thế nhưng nội dung bài nói ấy đă làm thay đổi lịch sử.

 

Ông đề nghị «Chương tŕnh Phục hồi Châu Âu», sau này mang tên Kế hoạch Marshall. Hoa Kỳ sẽ chi khoảng 13 tỉ đô la – tương đương hàng trăm tỉ theo thời giá hôm nay – để tái thiết kinh tế Tây Âu. Điều đáng chú ư: viện trợ không chỉ dành cho đồng minh, mà cả những quốc gia từng là kẻ thù như Đức và Ư.

 

Marshall tuyên bố chính sách này không chống lại bất kỳ quốc gia hay học thuyết nào, mà chống lại đói nghèo, tuyệt vọng và hỗn loạn.

 

Bài học của Thế chiến thứ nhất vẫn c̣n đó. Sau năm 1918, các nước thắng trận đă áp đặt lên Đức những điều khoản trừng phạt nặng nề qua Hiệp ước Versailles. Hậu quả là lạm phát phi mă, thất nghiệp tràn lan, và cuối cùng là sự trỗi dậy của chủ nghĩa cực đoan. Marshall không muốn lặp lại sai lầm ấy.

 

Kế hoạch Marshall không chỉ là cứu trợ để Mỹ cho không. Nó là chiến lược địa chính trị. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh đang h́nh thành, việc phục hồi kinh tế Tây Âu đồng nghĩa với việc củng cố các nền dân chủ tự do, ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô. Từ năm 1948 đến 1952, 16 quốc gia nhận viện trợ. Sản lượng công nghiệp tăng vọt. Thương mại phục hồi. Đồng tiền ổn định.

 

Tây Đức tái thiết thần tốc. Ư thoát khỏi khủng hoảng chính trị. Pháp và Hà Lan phục hồi hạ tầng.

 

Chính trên nền tảng hợp tác kinh tế đó mà sau này h́nh thành Cộng đồng Than Thép Châu Âu, tiền thân của Liên minh Châu Âu.

 

Marshall không xem đó là chiến thắng của riêng ḿnh. Năm 1953, ông được trao Giải Nobel Ḥa b́nh – trở thành quân nhân chuyên nghiệp duy nhất trong lịch sử nhận giải này. Trong bài diễn văn tại Oslo, ông nói rằng chi phí chiến tranh luôn hiện lên trước mắt ông là những hàng bia mộ thẳng tắp.

 

Có người phản đối. Có người cho rằng một vị tướng không xứng đáng với giải thưởng về ḥa b́nh. Nhưng lập luận của Marshall rất giản dị: người hiểu rơ sự tàn khốc của chiến tranh nhất chính là người khao khát tránh nó nhất.

 

Ông qua đời năm 1959 và được an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Không hồi kư khoa trương. Không tự quảng bá. Không dựng tượng đài cho riêng ḿnh.

 

Di sản của ông không phải một trận đánh. Mà là một lục địa hồi sinh. Không phải một khẩu hiệu. Mà là một nguyên tắc: quyền lực phải đi đôi với trách nhiệm.

 

Bài học rút ra:

Thứ nhất, quyền lực chân chính không cần phô trương. Marshall từ chối vận động cho vinh quang cá nhân trong chiến dịch D-Day. Ông đặt lợi ích quốc gia lên trên tham vọng riêng. Trong thời đại mà nhiều người tranh giành chức vị bằng mọi giá, thái độ ấy càng đáng suy ngẫm.

 

Thứ hai, chiến thắng quân sự chưa phải là kết thúc. Nếu không có một chiến lược ḥa b́nh sáng suốt, chiến thắng có thể gieo mầm cho cuộc chiến khác. Lịch sử Đức sau Thế chiến thứ nhất là minh chứng. Lịch sử Châu Âu sau Kế hoạch Marshall là phản chứng.

 

Thứ ba, ḷng khoan dung có thể là công cụ an ninh hữu hiệu hơn sự trả đũa. Thay v́ nghiền nát kẻ thù bại trận, Hoa Kỳ chọn tái thiết họ. Chính sự hào hiệp có tính toán ấy đă tạo nên một liên minh xuyên Đại Tây Dương bền vững suốt hơn bảy thập niên.

 

Sau cùng, câu chuyện Marshall nhắc ta rằng sức mạnh thực sự không nằm ở khả năng hủy diệt, mà ở năng lực xây dựng. Trong một thế giới nhiều biến động, bài học ấy vẫn c̣n nguyên giá trị: muốn tránh chiến tranh, phải biết tổ chức ḥa b́nh.

 

Donald J. Trump và phe đảng MAGA muốn nước Mỹ «great again» phải hiểu, phải học và phải làm như thế thay v́ mị dân bằng chính sách ngoại giao thiển cận.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính