|
Thích Trí Quang... tên Cán bộ csBV nằm vùng trong PGVN...

From: Tong Fam
Sent: Sat, January 29,
2011 7:36:01 PM
Subject: Cán bộ csBV Thích
Trí Quang
HT. THÍCH TÂM CHÂU NÓI G̀ VỀ TRÍ QUANG VÀ PHE ẤN QUANG?
Ở miền
Nam, ngoài Dương Văn Minh, c̣n
có Thích Trí Quang, và phe
Phật Giáo Ấn Quang, hay ”PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT” là một ổ cán bộ
CS nằm vùng trước mũi của chính quyền.V́ giới quân nhân cầm quyền tham
nhũng, nên đă dung dưỡng bọn mượn danh đạo, tạo danh đời này, khiến cho
miền Nam bị rữa mục, rơi vào tay CS quá dễ dàng.
Theo tôi
biết, hiện nay ở hải ngoại, nhóm sư tăng đệ tử của Trí Quang, đa số là
người miền Trung, trà trộn trong cộng đồng người VN tị nạn rất đông, cấu
kết rất chặt chẽ, tạo thành một lực lượng, nếu mai sau thời cơ đến sẽ xử
dụng. Tuy mang danh nghĩa tu hành, nhưng nhóm tăng sĩ Ấn Quang ở khắp nơi
hải ngoại chỉ chuyên tâm nô nức ganh đua xây chùa bằng tiền cúng dường,
vay mượn không lăi dài hạn của bá tánh. Có nơi con số lên tới hàng chục
triệu, và thường xảy ra những cuộc tranh chấp, chửi bới nhau chí chóe...
Đây là một hiện tượng đáng để các giới đồng bào khắp nơi hải ngoại phải
đặc biệt quan tâm, cảnh giác đối với các tu sĩ đó trước khi quá muộn, như
trường hợp Trí Quang.
Bởi
chính đức Phật đă dạy trong tạng luật ”MAHĂVIBHANGA”,
đoạn Một: Có 5 hạng cướp th́ hạng Tỳ Khưu không lo tu hành chân chính, chỉ
ăn ngon mặc đẹp, chuyên lo xây chùa chiền, tu viện cho nguy nga đồ sộ bằng
tiền của bá tánh là một hạng cướp nguy hiểm nhất. V́ tên tướng cướp thường
c̣n bị pháp luật xét xử. Trong khi đó tên cướp mặc áo cà sa vẫn được tự
do, đi đến đâu vẫn được bá tánh cúng dường vật thực ngon lành, tinh khiết,
y phục, chỗ ở tốt đẹp, và xưng hô cực kỳ cung kính... (theo T̀M HIỂU PHẬT
GIÁO, chương 14, Phật giáo với hàng tăng lữ của soạn giả Maha Thong Kham
Medhivongs, Phật giáo nguyên thủy).
Như trên
tôi đă nói: TT Trí
Quang là một cán bộ CSBV nằm vùng, đă chụp được thời cơ thuận lợi nhất là
vụ treo cờ Phật Giáo, để nổi lên đánh phá miền Nam.
Thực ra
chẳng phải đến bây giờ dân chúng miền Nam mới biết tông tích của TT Thích
Trí Quang, một cán bộ CSBV đội lốt tu hành, đă phát động cuộc đấu tranh
năm 1963, lật đổ chế độ gia đ́nh trị nhà Ngô. Tông tích và đường lối mượn
danh nghĩa Phật Giáo đấu tranh, chống gia đ́nh trị họ Ngô, mở đường cho sự
rối loạn và sụp đổ của miền Nam vào tay CSBV năm 1975 của TT Trí Quang đă
được một số người biết từ lâụ Nhưng hoàn cảnh chánh trị ở VN, từ năm 1963
cho đến 1975, đă không cho phép một ai có đủ can đảm để nói lên sự bí mật
nàỵ Nguyên do chẳng phải bản tánh cầu an, khiếp nhược của con người, mà
c̣n bởi nhiều yếu tố khác nữạ Những người am tường thời cuộc đều nhận thấy
rằng, vào khoảng thời gian ấy, trong không khí chánh trị hỗn độn như thế,
giới Phật giáo đấu tranh miền Trung đă trở nên một lực lượng chánh trị vô
địch, các tu sĩ miền Trung đă trở thành những kiêu tăng, dám giết người
nhân danh ”đạo pháp”, chẳng khác ǵ các kiêu binh kiêu tướng, và tệ nạn
tham nhũng, hối lộ bành trướng khắp các giai tầng chế độ, th́ việc phanh
phui bí mật cuộc đời của TT Trí Quang ra trước công luận lúc bấy giờ chỉ
là một việc làm vô hiệu quả, đồng thời c̣n là một hành động tự sát cách
ngu đần.
Hơn thế
nữa, bạn đồng minh Mỹ đến VN với danh nghĩa giúp chúng ta “ngăn làn sóng
đỏ”, nhưng tiếc thay, họ lại chỉ là một anh chàng khổng lồ mù ḷa, với vơ
khí là cơ quan CIA trong tay nhưng chẳng khác nào khẩu súng nước trẻ con
chơị Những người khôn ngoan chẳng ai dám tin vào họ!
Bạn đọc hăy tưởng tượng, ngay cả đến Ḥa
Thượng Thích Tâm Châu, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, một cao tăng
đă có một địa vị vững chắc trong khối Phật Giáo VN và cả trên trường quốc
tế, thế mà trong thời gian c̣n ở VN vẫn phải làm thinh “mũ ni che tai”,
tránh voi không xấu mặt nàọ Sau năm 1975, khi ra hải ngoại sống cuộc đời
lưu vong, Ḥa Thượng Thích Tâm Châu vẫn tiếp tục “thủ khẩu như b́nh”, măi
cho đến năm 1994, Ḥa Thượng mới công bố quyển “BẠCH THƯ”, trong đó
có kể lại đôi điều liên quan đến TT Thích Trí Quang và phái Phật Giáo đấu
tranh miền Trung, sau hiệp thành tổ chức gọi là: “GIÁO HỘI PHẬT GIÁO
V.N. THỐNG NHẤT”, trụ sở đóng tại chùa Ấn Quang, nên c̣n gọi là phe
“PHẬT GIÁO ẤN QUANG”.
Phe nhóm
này chủ trương đấu tranh bạo động, gây rối loạn không ngừng ở khắp miền
Nam, theo sách lược của CSBV. Đối với HT Tâm Châu, mặc dù là đồng đạo,
nhưng phe Phật Giáo Ấn Quang vẫn dùng thủ đoạn khủng bố để uy hiếp tinh
thần.
Nơi
trang 24, của Bạch Thư, HT Thích Tâm Châu kể nguyên văn như sau:
"Tôi
về tới VN Quốc Tự (VNQT), bước chân vào cửa văn pḥng viện trưởng Viện Hóa
Đạo (VHĐ) của tôi th́ có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: MUỐN QUẦN CHÚNG
TUÂN THEO KỶ LUẬT TH̀ PHẢI THEO QUẦN CHÚNG. Tôi vào tới bàn giấy của tôi
th́ có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư: ”YÊU CẦU CÁC THƯỢNG TỌA
TRONG VIỆN HÓA ĐẠO, KHÔNG ĐƯỢC THEO THƯỢNG TỌA TÂM CHÂU”.
Tôi định lên chánh điện VNQT lễ Phật, tại đây có mấy vị tăng thanh niên
không cho tôi vào chánh điện VNQT và hăm dọa, ai muốn vào chùa hăy bước
qua xác chết của họ.
Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào văn hồi trật tự được. Tôi trở về
chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và một
huyết thư CẤM TÔI KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NỮA. Và người trong chùa cho biết
là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và chính các vị tăng thanh niên đang tụ
tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết
tôi. May có sư cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát.”
Trang 25, HT Tâm Châu viết tiếp:
”Nhóm Lập Trường ở Huế ra
đời... TT Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật Tử đem bàn
thờ ra đường, để ngăn cản bước tiến của quân đội chính phủ, cho các cán bộ
CS nằm vùng trà trộn tẩu thoát... Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác,
ngoài việc đem Phật ra đường, c̣n gh́m súng nấp sau tượng Phật bắn ra, khi
quân đội tiến vào kiểm soát chùa.
Đem Phật ra đường rồi, TT Trí Quang vào ṭa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên
tuyệt thực. Sau chính phủ đưa TT Trí Quang vào Sài G̣n, ở nhà bác sĩ
Nguyễn Duy Tàị (* Đến đây, tôi xin mở dấu ngoặc để nói thêm về dưỡng
đường của bác sĩ Nguyễn Duy Tài, để bạn đọc hiểu rơ hơn. Tôi quen với vợ
chồng bác sĩ Tài từ năm 1965, khi tôi với Hồ Ngọc Cứ và Nguyễn Duy Tài
cùng ra tranh cử Hội Đồng Đô Thành. Tôi biết cả nguyên nhân tiền bạc, do
đâu mà vợ chồng BS Tài đă có để lập nên nhà bảo sanh nàỵ Nhưng đó là
chuyện riêng của bà Tài, đă xả thân để gầy vốn cho chồng làm ăn, nên tôi
không đề cập vào đây làm chi. Tôi chỉ đề cập đến BS Tài.V́ hành động của
ông ta liên quan đến chánh trị và gắn bó với Trí Quang. Đó là một nhà bảo
sanh tư, nằm trên đường Duy Tân, nổi tiếng chuyên môn các dịch vụ phá thai
bất hợp pháp, với giá cắt cổ. Những sản phụ nào gần chết mà không đủ tiền
cũng đừng ḥng được nhận bệnh.
Một hôm, thảm cảnh thương tâm sau đây đă xảy ra: một trung
sĩ ở trong xóm nhà thờ Tân Định, sau đường Hiền Vương, góc ngă ba Duy Tân,
có vợ sanh khó, mất máu quá nhiều đến ngất xỉu mê man rồi. Người chồng đem
vợ đến dưỡng đường Duy Tân của BS Tài gần đó xin cứu cấp. Bác Sĩ Tài đ̣i
phải đóng tiền trước đủ 18.000 đồng mới cho nhập viện. Viên hạ sĩ quan
nghèo, không đủ tiền, lạy lục xin cho đóng trước vài ngàn, c̣n lại sẽ trả
sau.
Bác sĩ Tài trả lời lạnh lùng: ”Không có tiền th́ đem đi nhà thương thí,
chớ đem đến đây làm ǵ?!” Và nhất định không nhận bệnh. Sản phụ đó chết.
Người chồng đau đớn quá, mỗi chiều chiều, dắt bầy con thơ nheo nhóc đến
trước dưỡng đường BS Tài ngồi khóc kể, réo đích danh Nguyễn Duy Tài chửi
bới thậm tệ. Chuyện này đă kéo dài cả tháng trời. Những ai có dịp qua lại
đường Duy Tân, ngang dưỡng đường Nguyễn Duy Tài thời đó đều không khỏi
chạnh ḷng khi chứng kiến cảnh thương tâm đó.
Vậy, chuyện Nguyễn Duy Tài chứa chấp, nuôi dưỡng, săn sóc Thích Trí Quang
trong bảo sanh viện Duy Tân chẳng qua chỉ là một hành vi ”mậu dịch t́nh
cảm” giữa bọn người quyền thế, giàu có, bất lương với nhau. Quả nhiên, ít
lâu sau, Nguyễn Duy Tài đă được khối Phật Giáo Ấn Quang cài vào một danh
sách tranh cử Thượng Viện, rồi trở nên nghĩ sĩ, đại diện cho phe nhóm Phật
Giáo Ấn Quang.
Sau ngày 30. 4. 75, ra hải ngoại, tôi không lấy ǵ làm lạ khi thấy vợ
chồng BS Nguyễn Duy Tài, ở Paris, liên hệ chặt chẽ với TT Thích Minh
Tâm, thuộc nhóm ”Phật Giáo Thống Nhất” miền Trung!). TT vẫn duy tŕ
việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức) cho đến khi chánh phủ quân
nhân y lời hứa hồi tháng 4.66, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3.9.66...
Tại miền Trung, TT Trí Quang cho tuyên truyền rằng:
”Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ Kim và cho tôi là cậu
của tướng Nguyễn Cao kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật Tử miền Trung... tại
Sài G̣n TT Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho
tôi 1 triệu Mỹ Kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn Mỹ Kim. Thực
ra, tôi chưa được một đô la của Mỹ, chứ nói chi đến vạn đến triệu...”
Về
chuyện Phật giáo Ấn Quang đem người và khí giới đến đánh chiếm và đốt phá
VNQT, HT Thích Tâm Châu kể nguyên văn như sau:
“Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số tăng
tại chùa Ấn Quang, được sự hộ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng
như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào VNQT bắt TT Viện trưởng VHĐ
Thích Thiện Tường cùng với rất đông chư tăng, đem về nhốt tại chùa
Ấn Quang.
Ngày hôm sau Nha Tuyên Úùy Phật Giáo can thiệp, mời các vị
Ấn Quang ra khỏi VNQT...
Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang
lại đem người, đem khí giới, tái chiếm VNQT một lần nữa. Lần này họ bắt
hết tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của VNQT, và đốt cháy một
dăy nhà phía tay trái Quốc Tự...”
(trang 28)
Về hành động của phe Ấn Quang đánh phá, đốt chùa, bắt nhốt
tăng chúng, HT Tâm Châu viết:
”Sự việc rơ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh
đấu của Ấn Quang, được sự hộ trợ ngầm của CS nằm vùng, lải nhải vu khống
cho VNQT chia rẽ giáo hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn GHPGVNTH.
Thực như câu phương ngôn của VN thường nói:
”Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng“.
Cậy đông lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả
ra chi cả!
Cho đến nỗi những vị tăng không biết chút ǵ về việc tranh đấu, việc xây
dựng giáo hội, cũng như các vị tăng ni, Phật tử ở xa, hay sau này, cũng a
dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS
nằm vùng trong suốt hơn 30 năm nay... Về vấn đề này, chính HT Thích
Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại:
”CS từng tuyên bố: Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với
Cách Mạng“...
Khi quân CS từ rừng về Sài G̣n đă có gần 500 tăng ni của
phe tranh đấu Ấn Quang ra chào đón...”
(trang 29)....
”Ngày 19.5.75, phe tranh đấu Ấn Quang đă tổ chức sinh nhật
Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.”
(trang 30).
Nói về
tinh thần đấu tranh của TT Trí Quang, HT Tâm Châu viết nơi trang 22:
”Trong lúc xáo trộn,
TT Trí Quang kéo thầy Quảng Độ (biết tiếng Anh), sư Bửu Phương (biết tiếng
Miên) chạy xuống Tân Châu và đang định chạy sang Kamphuchia, th́ Sài G̣n
trở lại yên ổn, các vị lại trở về.”...
Nhận xét
về hành vi trốn chạy của TT Trí Quang, HT Tâm Châu viết nơi trang 34, đoạn
3, nguyên văn như sau:
“Việc TT Trí Quang trốn chạy xuống Tân Châu, định sang
Kampuchia, chính tôi tới nhà Phật tử mà thượng tọa cư ngụ tại đường Hồng
Thập Tự hỏi thăm, họ nói cho tôi biết như vậỵ Và, sau TT cùng hai vị tùy
tùng trở về Sài G̣n th́ ai cũng biết. Để xác tín việc này, ĐĐ Thích
Quảng Thành cũng có nói trong lá thư của Đại Đức gửi cho TT Trí Quang
ngày 31. 12. 73 như sau:
”Năm 1964, khi Thiên Chúa Giáo xuống đường dưới thời chánh
phủ Nguyễn Khánh, TT đă trút bỏ trách nhiệm, cạo bỏ râu mày, cải trang
trốn sang Cao Miên. Nửa đường, nghe t́nh h́nh biến chuyển, TT mới trở về.
Trong những cuộc đấu tranh, cứ đến khi nào bí lối, nguy hiểm, TT đều dùng
h́nh thức tuyệt thực, để giao trách nhiệm và công việc cho các thượng tọa
khác...
Gần cuối lá thơ, ĐĐ Thích Quảng Thành với tính t́nh trung
trực đă viết:
”Đến nỗi hiện giờ anh em chúng con so sánh Thượng Tọa
(Thích Trí Quang) với nhân vật “NHẠC BẤT QUẦN“, trong tiểu thuyết nổi danh
của Kim Dung. Nhạc Bất Quần là chưởng môn của một vơ phái nổi tiếng và
được giới giang hồ xưng tụng là “Quân Tử Kiếm“, v́ lối đánh và đường kiếm
của ông rất quân tử. Tuy nhiên mọi người đều lầm. Sau một thời gian mấy
mươi năm, ông đă lộ chân tướng của ông là một “ngụy quân tử“, với những
mưu mô và thủ đoạn cực ác và cực nham hiểm”...
(trang 35).
NGUỒN
GỐC GIA Đ̀NH CỦA TRÍ QUANG
Nhân Bạch Thư này, tôi xin giới thiệu thêm về lai lịch, nguồn gốc của Trí
Quang, một tên CS nằm vùng hạng gộc, đă tạo nên bao nhiêu biến cố bi
thương cho đất nước suốt từ 1963 đến 1975.
TT Trí Quang sanh năm 1922, năm nay đă 75 tuổi, tại làng Diêm Điền (c̣n
gọi là Nại Hiên hay Kẻ Nại), thị xă Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng B́nh. Làng
Diêm Điền vốn là một làng nhỏ và nghèo khổ nổi tiếng ở miền Trung. Hầu hết
dân làng đều làm nghề nông, thợ mộc, hay làm thuê làm mướn, để kiếm sống
qua ngàỵ V́ phong thổ, dân làng Diêm Điền có tật nói ngọng, như dân làng
Thổ Ngọa, nên đi đến đâu mở miệng ra cũng khó lẫn. V́ là nơi nghèo khổ
truyền kiếp, nên dân làng Diêm Điền có tính bảo thủ, rất cực đoan, và hết
sức quá khích.
Trong
quá khứ, khi phong trào Văn Thân nổi lên, năm 1885,
dân làng Diêm Điền và làng Đồng Đ́nh,
cũng thuộc tỉnh Quảng B́nh đă kéo nhau đến đốt nhà thờ Sáo Bùn, nằm
về phía Nam Đồng Hới, của Thiên Chúa Giáo, tạo nên một trận hỏa hoạn khủng
khiếp đă thiêu sống mấy trăm giáo dân trong đó. Sau trận đốt phá,
giết chóc tàn bạo này của dân làng Diêm Điền, số giáo dân c̣n sống sót, đă
phải chạy lên phía Bắc Đồng Hới lập nên một giáo xứ mới, gọi là Tam Ṭa.
Khi phong trào Việt Minh nổi lên, làng Diêm Điền đă dễ dàng trở thành “CÁI
NÔI” của Cộng Sản, và dân làng này đều trở thành những tay Cộng Sản rất
quá khích và khát máu.
Đến năm
1947, khi quân Pháp đă tái chiếm Đồng Hới, văn hồi an ninh, trật tự, và
thiết lập đồn bót canh gác khắp tỉnh Quảng B́nh, nhưng từ khoảng thời gian
1947 đến 1954, vẫn không một ai dám bén mảng đến làng Diêm Điền. V́ kẻ nào
đă lạc bước đến làng đó đều kể như bị thủ tiêu luôn.
Trong
hoàn cảnh bần cùng ấy của làng Diêm Điền, TT Trí Quang đă xuất thân trong
một gia đ́nh nông dân nghèo khổ và là người anh cả của 3 người em trai.
Thuở nhỏ, TT Trí Quang đă được cha mẹ đặt tên cho là Phạm Văn Bồng.
Ba người em của ông cũng đă được cha mẹ đặt tên chọ Nhưng v́ gia cảnh quá
túng quẫn, cha mẹ không nuôi nổi các con, nên người con trai lớn tên Phạm
Văn Bồng và người em kế đă phải sớm nương thân cửa Phật để kiếm miếng ăn.
Hai anh em lớn nhà họ Phạm đă xuất gia, qui y với Ḥa Thượng Phổ Minh, trụ
tŕ ở Đồng Đ́nh, cũng thuộc thị trấn Đồng Hới. Bởi nhân duyên ấy, nên về
sau bốn anh em nhà họ Phạm đă được Ḥa Thượng Phổ Minh dùng bốn chữ:
Quang, Minh, Chính, Đại, để cải danh cho. V́ thế Phạm Văn Bồng đă cải danh
thành Phạm Quang, sau trở thành Thích Trí Quang. C̣n ba người em tên là:
Phạm Minh, Phạm Chánh, và Phạm Đại.
Nhờ nương thân nơi cửa Phật, nên hai anh em Phạm Quang và Phạm Minh đă
được học hành chút đỉnh, khoảng lớp Ba tiểu học. C̣n hai em là Phạm Chánh
và Phạm Đại đều chịu cảnh thất học.
VỢ PHẠM
CHÁNH LÀM NỘI ỨNG ĐÁNH ĐỒN Đến năm 1945, khi phong trào Việt Minh nổi lên
trên toàn quốc, Phạm Minh đă sớm rời bỏ lớp áo tu hành, tham gia kháng
chiến. Nhờ có chút đỉnh chữ nghĩa, nên Phạm Minh đă được phục vụ trong Ủy
Ban Hành Chánh Kháng Chiến Xă, tại địa phương. C̣n hai người em, tên Phạm
Chánh và Phạm Đại th́ xung vào Bộ Độị Chẳng bao lâu sau, Phạm Chánh được
kháng chiến quân phong làm Tiểu Đội Trưởng Dân Quân Du Kích. Nhưng đến
ngày 4. 6. 47, Phạm Chánh đă bị lính Pháp phục kích bắn chết tại Đức Phổ,
thuộc phía Tây thành phố Đồng Hớị Lúc bấy giờ Phạm Chánh mới 21 tuổị C̣n
người em út, tên Phạm Đại làm điều dưỡng viên trong Bộ Đội CSBV vẫn c̣n
sống cho đến năm 1954, khi chia cắt đất nước.
Sau khi Phạm Chánh đă bị Tây bắn chết, người vợ của Phạm Chánh cũng là một
kháng chiến quân, đă từ chiến khu quay trở về làng Diêm Điền, xin phép
được hồi cư, với lư do được gần gũi phụng dưỡng cha mẹ chồng. Điều nên
biết là vợ của Phạm Chánh lúc bấy giờ c̣n rất trẻ, và là một thiếu phụ
nhan sắc mặn ṃi.
Vợ Phạm Chánh cầm đơn xin giấy phép hồi cư, lên Đồng Hới, gặp thiếu úy
Huỳnh Công Tịnh. Lúc bấy giờ TU Huỳnh Công Tịnh đang giữ nhiệm vụ trưởng
Pḥng Nh́ của Trung Đoàn Nguyễn Huệ, bộ chỉ huy đóng ở Đồng Hới, đă nhận
đơn và bắt cô ta phải làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Minh nữạ Vợ
Phạm Chánh tuân thủ, cam kết đủ mọi điềụ Nhưng TU Huỳnh Công Tịnh vẫn c̣n
nghi ngờ, nên ngầm ra lịnh cho thượng sĩ Phạm Pḥng phải theo dơi sát hành
tung của đương sự. Đồng thời TU Huỳnh Công Tịnh cũng ra lịnh cho trưởng
đồn Diêm Điền biết sự hồi cư rất khả nghi của vợ Phạm Chánh, để đề pḥng
chu đáo.
Quả nhiên, chỉ vài tuần lễ sau khi mới hồi cư, vợ của Phạm Chánh đă t́m
cách lân la đến đồn Diêm Điền, làm quen với các binh sĩ trong đồn. Nhiều
khi cô nàng c̣n đùa cợt lả lơi, ra chiều khêu gợi t́nh tứ với anh em binh
sĩ. Không bao lâu sau, cô nàng tiến gần đến mục tiêu hơn. Vợ Phạm Chánh
đem thân xác trẻ đẹp, c̣n hấp dẫn của ḿnh ra để thực hiện Mỹ Nhân Kế,
suồng să bắt nhân t́nh với viên trưởng đồn. Trong những lần gần gũi thân
mật, viên trưởng đồn nhận thấy cô nàng đă để lộ nhiều hành vi khả nghi như
hay hỏi han về t́nh trạng binh sĩ trú đóng trong đồn, chú ư theo dơi các
cuộc hành quân, và nhất là cô nàng đặc biệt quan sát các vị trí pḥng ngự
chung quanh đồn, các công sự chiến đấu trong đồn v.v... V́ thế viên trưởng
đồn đă ngầm báo cáo cho TU Huỳnh Công Tịnh biết, để phác họa sẵn một
chương tŕnh “tương kế tựu kế”.
Về mặt địa thế, đồn Diêm Điền nằm về phía Tây, cách thành phố Đồng Hới
khoảng một cây số, và là một trong những đồn ṿng đai bảo vệ thành phố.
Khi đă nắm vững được tin t́nh báo, quân Cộng Sản Việt Minh sẽ kéo tới tấn
công đồn Diêm Điền, lập tức trung đoàn Nguyễn Huệ liền âm thầm mở cuộc bủa
vây, bố trí các địa điểm phục kích chung quanh đồn, đồng thời trí các loại
súng phóng tạc đạn, súng cối, và các loại trọng pháo đều nhắm vào đồn.Tối
hôm đó, như thường lệ, vợ của Phạm Chánh lại vào đồn ngủ với viên trưởng
đồn. Khoảng 2 giờ sáng, khi đặc công đă thi hành xong kế hoạch cắt hàng
rào kẽm gai, gỡ xong một số ḿn chung quanh đồn, vợ Phạm Chánh liền dùng
lửa làm ám hiệu, để cho đặc công ở ngoài ḅ vào trong đồn.
Khi biết chắc đặc công CS đă ḅ vào sát đồn, viên trưởng đồn mới vùng dậy
phóng ám hiệu cho các đơn vị phục kích đồng loạt khai hỏa phản công. Đến
lúc bấy giờ, vợ của Phạm Chánh mới biết được kế hoạch của ḿnh đă bại lộ,
liền nhảy vào ôm gh́ lấy viên đội trưởng. Giữa tiếng súng nổ ṛn tứ phía
như pháo ran, và tiếng súng cối nổ ́ ầm chung quanh đồn, lúc bấy giờ hai
ngườiø hăy c̣n trần truồng như nhọng, ôm nhau vật lộn xà ngầụ Cuối cùng
viên trưởng đồn đă vớ được khẩu súng lục giấu sẵn dưới giường, bắn chết vợ
của Phạm Chánh.
Sáng hôm sau, dư luận cả thành phố Đồng Hới đều xôn xao bàn tán về vụ quân
CS Việt Minh đă tấn công hụt đồn Diêm Điền. Người ta cũng th́ thào bàn tán
không ngớt về chuyện vợ của Phạm Chánh, đă dùng Mỹ Nhân Kế, làm nội gián
trong vụ tấn công đồn Diêm Điền, nhưng mưu sự bất thành, và người góa phụ,
em dâu của TT Trí Quang, đă bị
bắn chết tại trận trong lúc thân xác c̣n lơa lồ. Vài ngày sau, bà mẹ của
Thích Trí Quang đă bị cơ quan an ninh địa phương bắt giam mấy tuần lễ
liền, để tra vấn về vụ người con dâu làm nội ứng trong vụ đánh đồn Diêm
Điền.
Nói về
Phạm Minh, người em kế của Trí Quang, đă đi theo Việt Minh từ những ngày
đầu kháng chiến chống Pháp. Theo kư giả Robert Shaplen, đă viết trong
quyển “The Lost Revolution” (Nhà x.b. Harper and Row, 1965), có
đoạn kể rằng:
Khoảng
tháng 5, 1964, sau khi nhà Ngô sụp đổ, người em trai kế của Trí Quang, tên
Phạm Minh, vốn là một ủy viên của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng B́nh đă giả
trang làm một tăng sĩ Phật Giáo, đội tên “Thích Diệu Minh” đă cùng với một
cán bộ của MTGPMN lén vào chùa Từ Đàm thăm Trí Quang...
TRÍ QUANG BỊ BẮT
Để giúp đồng bào nắm vững được các hoạt động chánh trị thiên Cộng liên tục
của Trí Quang, khởi từ thập niên 30 cho đến ngày miền Nam rơi vào tay
CSBV, tôi thiết tưởng cần phải mời bạn đọc theo tôi lùi về dĩ văng, từ khi
Trí Quang c̣n là một tu sĩ trẻ tuổi.
Tuy khởi
đầu, cậu bé Phạm Quang nghèo khổ đă được HT Phổ Minh cho nương nhờ cửa
Phật, để có chỗ ăn học. Ở Đồng Hới, thuở ấy ai cũng biết HT Phổ Minh là
một vị cao tăng, đức độ. Ngài đă có gia đ́nh rồi mới đi tụ Nhưng ngài chỉ
thông thạo Hán Văn, và biết chút đỉnh chữ Quốc Ngữ, chớ không am tường Tây
học. Dù vậy, đến năm 1945, HT Phổ Minh lại không theo CSVM. Ngài đă ở lại
vùng Pháp chiếm đóng, trong khi nhiều tăng sĩ Phật Giáo đă đi theo kháng
chiến. Trong thời gian này, khoảng năm 1934, bác sĩ Lê Đ́nh Thám
(thân phụ của ông Lê Đ́nh Duyên, một đảng viên VN Quốc Dân Đảng, cựu giáo
sư trung học, cựu đổng lư Bộ Thông Tin, thời Nguyễn Khánh làm thủ tướng,
cựu dân biểu thời đệ nhị Cộng Ḥa), đă cùng với Thượng Tọa Thích Mật Thể
lập ra trường An Nam Phật Học ở Huế, nhắm mục đích đào tạo tăng sĩ.
Năm
1942, lúc đó Trí Quang vừa tṛn 20 tuổi, đă được tuyển vào học tại trường
này, và thọ giáo với Ḥa Thượng Thích Trí Độ, giám đốc trường.
Năm sau,
1943, Trí Quang tốt nghiệp khóa Phật Học Trung Cấp.
Nên biết HT Thích Trí Độ
đă gia nhập đảng CSVN từ năm 1941,
lúc đảng này c̣n hoạt động trong bóng tối.
Đến năm
1945, sau khi VM cướp chánh quyền HT Thích Trí Độ được CSVN cử giữ chức
chủ tịch trung ương Giáo Hội Phật Giáo Cứu Quốc (PGCQ). V́ thế HT Trí Độ
đă kéo một số tăng sĩ theo CS, trong đó có
Thích Thiện Minh, làm chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Trị...
Về phần
Trí Quang, khi CSVM tuyên bố “toàn quốc kháng chiến”, và ra lịnh cho quần
chúng phải tản cư khỏi các đô thị lớn như: Hà Nội, Huế và Sài G̣n v.v...,
th́ vào khoảng cuối năm 1946, Trí Quang trở về nơi sinh quán, làng Diêm
Điền. Một thời gian ngắn sau, Trí Quang lại theo chân
TT Thích Mật Thể ra Vinh. Nhưng Trí
Quang chỉ ở Vinh có vài tháng, rồi lại quay trở về Diêm Điền, để giữ chức
chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng B́nh.
Đến năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Đồng Hới, Trí Quang rời làng Diêm
Điền, đến cư ngụ tại làng Trung Nghĩa, v́ Diêm Điền nằm quá gần thành phố,
nên rất khó khăn thực hiện công tác bí mật. Trong thời gian này, Trí Quang
hoạt động cùng một tổ với hai cán bộ nội thành của CSVM, tên Nguyễn
Toại (c̣n gọi là Toại Béo), ở Đồng Đ́nh, và Nguyễn Tịch ở Đồng
Phú.
Chẳng
bao lâu sau, cũng trong năm 1947, Trí Quang, Toại Béo và Nguyễn Tịch đều
bị Pḥng Nh́ Pháp theo dơi bắt trọn ổ. Lần này, Trí Quang và Nguyễn Tịch
đă bị giam ở Trạm Thiên Văn Tam Ṭạ Tuy bị trói giật cánh khủyu, nhưng
không hiểu làm cách nào nửa đêm Nguyễn Tịch đă tự cởi trói và trốn thoát
mất dạng. Ít lâu sau Trí Quang cũng đă được Pháp trả tự dọ Riêng tên Toại
Béo, v́ trong thời gian hoạt động cho VMCS, đă chỉ điểm cho CSVM giết hại
nhiều anh em hoạt động chánh trị quốc gia chống CS, nên khi bị bắt, Toại
Béo đă phải trả nợ máu. Quân Pháp đă đem Nguyễn Toại ra xử bắn, rồi chặt
đầu, đem bêu ở chân Cầu Dài, phía Nam thành phố Đồng Hớị Về sau, Pháp c̣n
đem chiếc đầu lâu của Toại Béo về bêu ở cổng Quảng B́nh Quan, nằm về phía
Tây thành phố. Nhưng sau khi được trả tự do ít lâu, Trí Quang lại bị Pḥng
Nh́ của Tây bắt lần nữa, v́ tội vẫn c̣n tiếp tục hoạt động bí mật và duy
tŕ liên lạc với các cán bộ CSVM. Sau một thời gian bị giam, Trí Quang đă
được một viên chức bảo hộ của Pháp ở Huế bảo lănh. Lần này Trí Quang đă
phải làm tờ cam kết không hoạt động cho CSVM nữa.
Sau lần phóng thích thứ nh́, Trí Quang nhận thấy quê hương Đồng Hới không
c̣n là nơi dung thân với những hoạt động bí mật được nữa, Trí Quang liền
vào Huế, trụ tŕ ở chùa Từ Đàm. Từ đó, bề ngoài Trí Quang làm ra vẻ chỉ
chăm lo Phật sự, nhưng ngấm ngầm bên trong ông vẫn tiếp tục hoạt động cho
CSVM.
TRÍ QUANG VỚI PHONG
TRÀO H̉A B̀NH
Khoảng
năm 1953, CSVM khởi sự chiến thuật vừa đánh vừa đàm. Một mặt vẫn đánh nhau
kịch liệt với Tây, mặt khác CSVM mở chiến dịch vận động Phong Trào Ḥa
B́nh trong nước và hải ngoại, để áp lực Pháp phải ngưng chiến ở Đông
Dương. V́ thế Ủy Ban Bảo Vệ Ḥa B́nh được CS lập ra, do HT Thích Trí Độ
lănh đạọ Ở miền Nam, Trí Quang đă hoạt động tích cực để ủng hộ ủy ban nàỵ
Đến năm
1954, sau Hiệp Định Genève, luật sư Nguyễn
Hữu Thọ ở Sài G̣n cũng thành lập “Phong Trào Ḥa B́nh” để yểm
trợ cho đường lối chánh trị của CSBV.
Ở Huế,
lúc bấy giờ Trí Quang đang làm hội trưởng Hội Việt Nam Phật Học, cũng
hưởng ứng lời kêu gọi của CSBV, thành lập một Phong Trào Ḥa B́nh tương tợ
như của LS Nguyễn Hữu Thọ. Nhân sự ṇng cốt của Phong Trào Ḥa B́nh ở Huế,
do Trí Quang thành lập, ngay từ giây phút đầu tiên đă gồm toàn cán bộ CS
nằm vùng thuộc chi bộ Thuận Hóa của bác sĩ
Lê Khắc Quyến. Ngoài ra, c̣n có sự tham gia của một số trí thức
miền Trung như: Nguyễn Cao Thăng, bác sĩ
Thú Y Phạm Văn Huyến, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, ông Nguyễn Văn Đẳng
v.v... Lúc này ông Diệm đă về nước chấp chánh.
Ngày 29. 8. 54, Phong Trào Ḥa B́nh (PTHB) đă tổ chức lễ ra mắt tại Sài
G̣n, và phổ biến tuyên cáo 2 điểm: yêu cầu quân Pháp rút khỏi miền Nam, và
phải tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Genève.
Gần một
tháng sau, ngày 21. 9. 54, Phong Trào Ḥa B́nh tổ chức một cuộc biểu t́nh
khá lớn tại Sài G̣n đ̣i chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm phải trả những người Bắc
di cư về lại miền Bắc và tổ chức hiệp thương, rồi tổ chức tổng tuyển cử
toàn quốc.
Trước t́nh thế đó, bắt buộc chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm phải tỏ thái độ.
Ngày
7.11.54, chánh phủ ra lịnh bắt giam tất cả những nhân vật trí thức đă tham
gia hoạt động trong phong trào nàỵ
Ở Sài
G̣n, LS Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang, giáo sư Phạm Huy Thông, Kha
Văn Dưỡng, cùng với một số kư giả như Nguyễn Bảo Hóa, Trần Chi Lăng... đều
bị bắt.
Ở Huế, Thích Trí Quang, Nguyễn Cao Thăng, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương
Kỵ, Phạm Văn Huyến v.v...cũng không thoát khỏi mạng lưới an ninh. Nhưng, ở
miền Trung, Ngô Đ́nh Cẩn lại
muốn nhân dịp này noi gương Gia Cát Lựơng, trổ tài “thất túng, thất cầm”
Mạnh Hoạch. Ông Ngô Đ́nh Cẩn đă dùng lời
ngon ngọt, đem tiền bạc, địa vị và lợi lộc ra chiêu dụ Trí Quang và đồng
bọn. Cẩn tin chắc rằng: với những tài liệu cụ thể của Pḥng Nh́
Pháp, chứng minh rơ ràng Trí Quang đă từng hoạt động ngấm ngầm cho CS từ
lâu, hiện đang nằm trong tay ông, th́ Trí Quang sẽ không đời nào dám cựa
quậy, hay sanh ḷng phản trắc nữạ
Đến ngày 9. 2. 55, chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm đă ra lịnh tống xuất 26 nhân
vật đầu xỏ của PTHB ra Hải Pḥng, trao cho CSBV. Nhưng trong số đó đă
không có Trí Quang, không có Lê Khắc Quyến và Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Văn
Đẳng... Như thế, ta không lấy làm lạ chẳng bao lâu sau, Lê Khắc Quyến đă
được gia đ́nh nhà Ngô trọng đăi, làm y sĩ riêng cho thân mẫu của Ngô Đ́nh
Cẩn, lại c̣n được bổ nhiệm làm khoa trưởng Đại Học Y Khoa, Viện Đại Học
Huế, giám đốc bịnh viện trung ương Huế. Nguyễn Cao Thăng được làm chủ nhân
ông công ty bào chế thuốc tây OPV, tiền bạc vô như nước lụt! Nguyễn Văn
Đẳng, từ ngạch Thừa Phái được chuyển ngạch sang Tham Sự Hành Chánh, rồi
được bổ nhiệm đi giữ chức tỉnh trưởng.
Từ năm
1955 đến 1963, Nguyễn Văn Đẳng đă được bổ làm tỉnh trưởng Thừa Thiên, kiêm
thị trưởng Huế.
Riêng Trí Quang th́ được Cẩn bỏ tiền ra
giúp đỡ trùng tu lại chùa Từ Đàm cho thêm phần khang trang, mỹ lệ.
Nên biết
chùa Từ Đàm đă xây nên từ năm 1703, thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu. Khởi
đầu chùa này mang tên “Ấn Tôn Tự”.
Đến đời
vua Thiệu Trị (1841- 1847) chùa đổi tên là Từ Đàm (3 chữ “An Tôn Tự” bị
coi như phạm húy). V́ là một ngôi cổ tự, xây cất bằng những vật liệu thô
sơ, nên đến thời Bảo Đại chùa Từ Đàm đă bắt đầu bị hư mục.
Bởi thế trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1963, đồng bào miền
Trung, nhất là dân Huế, không c̣n ai lấy làm lạ khi thấy thỉnh thoảng ông
Cẩn đă đến chùa Từ Đàm ăn cơm chay với TT Trí Quang.
Ngoài ra ông Cẩn c̣n tích
cực yểm trợ cho các hoạt động Phật Giáo của Trí Quang, ở chùa Từ Đàm, tô
điểm thêm hào quang và làm tăng thêm uy tín cho Trí Quang.
Ông Cẩn đinh ninh rằng: với hồ sơ của Pḥng Nh́ Pháp trong
tay cộng thêm sự giúp đỡ tiền bạc dồi dào, chắc chắn ông đă nắm gọn được
cả phần hồn lẫn phần xác của Trí Quang. Nhưng ông Cẩn đă sai lầm hoàn
toàn. Con rắn CS dù đă lột da bao nhiêu lần, nó vẫn là con rắn. Ông đă
chơi tṛ chánh trị, muốn bắt chước Gia Cát Khổng Minh “thất cầm Mạnh
Hoạch”, nhưng rất tiếc, tài trí của ông Cẩn không sánh được với Khổng
Minh. C̣n Trí Quang lại là một tay cán bộ CS thâm căn cố đế, th́ không bao
giờ có thể trở thành Mạnh Hoạch được.
Như vậy, nói theo kiểu người Tây phương, ông Cẩn đă “đùa với lửa”, c̣n nói
theo kiểu VN ta th́ ông Cẩn đă chơi tṛ “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ ḍm
nhà”, chẳng trước th́ sau anh em nhà ông Cẩn cũng sẽ bị Trí Quang tiêu
diệt, đồng thời kéo theo cả sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa.
TRÍ QUANG VÀ CHẾ ĐỘ
DIỆM
Cho đến
nay ai cũng biết chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă bị quân đội, theo lệnh của Mỹ,
làm đảo chánh. Ngược lại, gỉa thuyết, nếu bấy giờ Mỹ chưa muốn lật đổ Diệm
th́ dù cho Trí Quang, Thiện Minh và nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung có
mọc thêm ba đầu sáu tay cũng không làm nên chuyện. Nhưng trên thực tế, ta
phải nh́n nhận rằng, lúc khởi đầu Trí Quang và Thiện Minh đă chủ động
trong việc phản đối lệnh giới hạn việc treo cờ Phật Giáo nhân dịp lễ Phật
Đản năm 1963. Chẳng bao lâu sau cuộc phản đối này đă được sự hộ trợ tích
cực của tập đoàn cán bộ CS nằm vùng ở Huế và một số tỉnh ở miền Trung,
biến thành cuộc đấu tranh chánh trị, núp dưới danh nghĩa Phật Giáọ Đặc
biệt nhất là sự yểm trợ của một số cán bộ cao cấp CS nằm vùng gồm:
Vơ Đ́nh Cường, Nguyễn Trực
và Tống Hồ Cầm...
Trong
thời gian Trí Quang dùng Phật Giáo để đấu tranh, dân xứ Huế ai cũng thấy
Vơ Đ́nh Cường, Nguyễn Trực, và Tống Hồ Cầm đều là những cánh tay mặt và
tay trái của Trí Quang. Nhưng trên thực tế, các cán bộ CS cao cấp ấy đều
là “cố vấn trực tiếp chỉ đạo” của Trí Quang. V́ thực chất Trí Quang chỉ là
một tu sĩ Phật Giáo có một tŕnh độ học vấn rất đơn sơ của bậc tiểu học,
với một mớ chữ Hán giới hạn đủ để đọc kinh sách. Trí Quang không có tŕnh
độ Hán học của một nhà Nho, và cũng không có chút hiểu biết ǵ về Tây học.
Ngoài tiếng mẹ đẻ, Trí Quang không nói được một ngoại ngữ nào, dù là Anh
hay Pháp ngữ. Bởi thế, ta thấy đi đâu Trí Quang cũng phải dắt theo
Đại Đức Thích Nhật Thiện, như một
bí thư kiêm thông dịch viên. Với căn bản đó, nên tầm hiểu biết của Trí
Quang rất hạn hẹp, nhất là trên b́nh diện chánh trị quốc tế.
Theo hồ sơ của Pḥng Nh́ Pháp, người ta được biết, Vơ Đ́nh Cường vốn là
một đảng viên CS thâm niên. Cường đă
được kết nạp vào đảng từ năm 1943, cùng một lượt với
TT Thích Minh Châu, về sau Minh
Châu đă trở nên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Viện đại học này
tọa lạc ở gần đầu cầu Trương Minh giảng. Vơ Đ́nh Cường đă được CS chỉ định
công tác tuyên vận trong giới Phật Giáo miền Trung.
Suốt
trong thời gian từ 1947 cho đến 1965, Vơ Đ́nh Cường đă bị bắt giam v́ tội
hoạt động cho CS nhiều lần, nhưng đều được Trí Quang bảo lănh, xin trả tự
do.
Kể từ
cuối năm 1963, tựa vào thế lực Phật Giáo đấu tranh miền Trung đang trên đà
thắng lợi, Vơ Đ́nh Cường đă ra mặt hoạt động công khai, không c̣n e ngại
ǵ mạng lưới an ninh của chế độ đệ nhị CH miền Nam.
Sau năm
1975, Vơ Đ́nh Cường đă được đảng CSVN cử làm dân biểu quốc hội, kiêm tổng
biên tập tạp chí Giác Ngộ, cơ quan tuyên vận chánh thức của khối PG thuộc
Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng CSVN. Trụ sở tạp chí Giác
Ngộ đặt ở số 85 đường Nguyễn Đ́nh Chiểu, quận 3, tp HCM.
Về phần Thích Nhật Thiện, bí thư của Trí Quang, tuy là tay chân thân tín
của Trí Quang, nhưng sau ngày 30.4.75, cũng đă bị CSBV bắt giam để điều
tra, v́ bị t́nh nghi đă hoạt động gián điệp cho CIA Mỹ.
CSBV đă
căn cứ trên sự kiện, đêm ngày 22. 8. 63, khi Ngô Đ́nh Nhu ra lệnh cho Công
An Cảnh Sát vây bắt tất cả sư săi trong các chùa Xá Lợi, An Quang,
Theraveda... không một ai thoát được, duy chỉ có Trí Quang, đă nhờ Thích
Nhật Thiện đem đi trốn trong cơ quan USAID, rồi chuyển qua ṭa đại sứ Mỹ.
(Trong tác phẩm VNNC của Trần Văn Đôn cũng có ghi điều này).
Vậy, phải chăng Thích Nhật Thiện đă có móc ngoặc với CIA Mỹ?
C̣n Trí
Quang th́ sao? Đó là những vấn nạn trầm trọng cho cả hai thấy tṛ Trí
Quang và Nhật Thiện!
Ngoài ra, tôi c̣n được biết thêm Thích Nhật Thiện, tên thật là Lê Mậu Chí,
c̣n gọi là Hàm, sanh quán tại Thừa Thiên. Trước di cư năm 1954, Lê Mậu Chí
đă làm công an thuộc ty CA Đồng Hới, rồi chuyển vào ty CA Khánh Ḥạ Tại
đây, v́ gian díu t́nh ái lăng nhăng, Lê Mậu Chí đă bị đổi ra chi CA Sông
Cầụ Không bao lâu sau, năm 1959, Lê Mậu Chí bị sa thải luôn khỏi ngành CẠ
Mất việc, Lê Mậu Chí ṃ vào Sài G̣n, xin xuất gia đầu Phật, và học thêm
Anh Văn. Khoảng các năm 1963 đến 65, Thích Nhật Thiện trụ tŕ tại một ngôi
chùa thuộc quận Nh́, gần khu chợ Cầu Muốị Trong thời gian này, khi ra
tranh cử ở quận Nh́, tôi và Hồ Ngọc Cứ thường gặp
¼Thích
Nhật Thiện.
Theo dơi, quan sát kỹ lưỡng cuộc đấu tranh từ khởi đầu, lúc tháng 5. 1963
cho đến ngày miền Nam mất vào tay CSBV, người ta nhận ra các phương thức
xách động quần chúng đô thị đấu tranh kiểu Cộng Sản đă được Trí Quang và
nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung đem ra áp dụng triệt để. Cao điểm của
cuộc đấu tranh Phật giáo miền Trung đă đạt được là đẻ ra một tổ chức chánh
trị hoạt động song hành lấy tên là “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC” sặc mùi
Cộng Sản, và nhóm “LẬP TRƯỜNG”, do toàn cán bộ CS nằm vùng đứng ra lănh
đạo như: Lê Khắc Quyến, chủ tịch chi bộ Thuận Hóa, Lê Tuyên, Tôn Thất
Hanh, Nguyễn Ngọc Bang, Cao Huy Thuần, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng
Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo (hiện đang ở Pháp)...
V́ cái tên “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” sặc sụa mùi CS, và lộ liễu quá,
nên khó thu hút được các thành phần khác, nên chỉ một thời gian ngắn sau,
Trí Quang ra lịnh cho cải danh là “LỰC LƯỢNG TRANH THỦ CÁCH MẠNG”. Đây chỉ
là tṛ “b́nh mới rượu cũ”, một thủ đoạn chánh trị quen thuộc của CS, chẳng
khác nào như đảng CSVN cải danh thành đảng Lao Động vậy!
Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng, hậu thân của HĐNDCQ, ra đời với sự tham gia
bí mật của nhiều cán bộ cao cấp CSBV, nhắm mục tiêu thừa thắng xông lên,
mượn danh nghĩa nhân dân bị độc tài gia đ́nh trị áp bức nổi dậy, cướp
chánh quyền miền Nam bằng bạo lực chánh trị. Nếu mục tiêu lớn, toàn quốc
không đạt được, Trí Quang sẽ tiến tới kế hoạch thỏa hiệp với một số tướng
lănh gốc miền Trung, tranh đấu đ̣i “MIỀN TRUNG TỰ TRỊ”, làm cho chế độ
miền Nam bị tê liệt.
Trong thời gian, kể từ sau ngày 1.11.63 trở đi Trí Quang tuy khoác áo tu
hành, nhưng thực ra là một lănh chúa quyền khuynh thiên hạ, các tướng lănh
cầm quyền đều kiêng dè, nể mặt. Điều này ai cũng đă thấy biết. Đặc biệt
nhất là Dương Văn Minh, một cán bộ CS nằm vùng ở trong Nam giống hệt như
Trí Quang nằm vùng ở miền Trung, đến giờ phút cuối cùng, ngày 30.4.75, vẫn
c̣n phải “nhất bộ tam bái” đến “HOÀNG CUNG ẤN QUANG” chầu chực Trí Quang
cả ngày lẫn đêm, để lănh chỉ thị!
Căn cứ trên các sự kiện kể trên, ta mới có thể hiểu được cách chính xác,
v́ sao sau ngày chế độ nhà Ngô sụp đổ, các tay chân thân cận của gia đ́nh
họ Ngô như: BS Lê Khắc Quyến đă không bị kết tội “DƯ ĐẢNG CẦN LAO NHÂN
VỊ”, Nguyễn Cao Thăng, đă kinh tài cho Ngô Đ́nh Cẩn và đảng Cần Lao mà
không bị rụng sợi lông chân nào, lại c̣n được hưởng trọn gia tài OPV của
Cẩn để lại.
Riêng vụ nổ trước đài Phát Thanh Huế, chỉ riêng một ḿnh thiếu tá Đặng Sĩ,
phó tỉnh trưởng Nội An, cấp thừa hành của tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, bị
đưa ra ṭa truy tố và bị tù khổ sai chung thân. Trong khi đó, tỉnh trưởng
Nguyễn Văn Đẳng, kiêm thị trưởng thành phố Huế, người chịu trách nhiệm
toàn bộ hành chánh và an ninh tại địa phương lại được nhởn nhơ ngoài ṿng
pháp luật, rồi về sau lại c̣n được chuyển về bộ Quốc Pḥng giữ chức Công
Cán Ủy Viên, thời tướng Đôn làm tổng trưởng.
Bạn đọc có biết tại sao không? V́ Đẳng vốn là tay chân bộ hạ thân tín từ
lâu của Trí Quang trong các Phong Trào Ḥa B́nh đấy!
CẤU KẾT GIỮA TRÍ
QUANG VÀ LÊ KHẮC QUYẾN
Trong
phong trào Phật Giáo đấu tranh miền Trung năm 1963, do Trí Quang và một số
tăng ni nằm vùng và toàn thể cán bộ CS trong chi bộ Thuận Hóa của Lê Khắc
Quyến tích cực yểm trợ. Bọn CS nằm vùng này biết rơ hơn ai hết, các thầy
trong chùa Từ Đàm chỉ có một số PT giới hạn, nhưng không có cán bộ xách
động đấu tranh chuyên nghiệp. Bọn CS có cán bộ thành thạo việc xách động
quần chúng, biết cách tổ chức đấu tranh có qui củ. Trong khi đó quần chúng
VN đại đa số đều nghèo khổ, không có địa vị, nên thường dễ dàng nghe theo
lời tuyên truyền rỉ tai, và dụ dỗ của CS nằm vùng. Nếu có kẻ nào cứng đầu,
không nghe, bọn CS nằm vùng không ngần ngại ǵ áp dụng ngay biện pháp hù
dọạ Có khi chúng dùng chính bàn tay của cơ quan an ninh và chánh quyền địa
phương mù quáng, để thực thi những lời hăm dọa của chúng, khiến cho người
dân thấp cổ bé họng chẳng c̣n biết nương tựa vào ai, phải khiếp sợ ngấm
ngầm CS.
Ngay trong giai đoạn đầu, bọn cán bộ CS nằm vùng kể trên đă xuất hiện với
lư do chính đáng là ủng hộ triệt để yêu sách của Phật Giáo, nguyện hy sinh
tranh đấu cùng các tăng ni, Phật tử, rồi lại c̣n hô hào vận động thêm quần
chúng tham gia đông đảo hơn nữạ Sau đó các thầy được đề cao lên đến tận
chín tầng mây xanh, tưởng chừng như đức Phật Thích Ca sống lại cũng không
bằng. Trong trường hợp này, dĩ nhiên các thầy đều không khỏi sướng rên
lên. V́ các thầy đâu đă thành Phật hay Bồ Tát ǵ. Trong bụng ông thầy tu
nào cũng vẫn có một phần cơm và một phần cứt như mọi chúng sinh thôi!
Từ đó các thầy chẳng khác nào những con cá đă ngậm phải lưỡi câu vô h́nh
của bọn CS nằm vùng. Khi chợt biết ra, các thầy muốn nhả lưỡi câu trong
họng cũng không c̣n kịp nữạ Vả lại, một khi đă được "thần thánh hoá" rồi
c̣n ai dại ǵ muốn quay đầu trở lại, hiện nguyên h́nh làm một tên phàm phu
tục tử nữả! Ay là chưa kể đến yếu tố TT Trí Quang chính là một cán bộ CS
gộc. Điều này, tôi sẽ chứng minh trong một đoạn tớị Sau hơn 20 năm lưu
vong, đồng bào tị nạn ở hải ngoại cũng như trong nước đều đă biết hết cả
rồi.
Trong đoạn này, tôi cần phải chứng minh cho mọi người thấy rơ cuộc đấu
tranh của PG miền trung đă bị CS nằm vùng thao túng và lộng hành từ đầu
đến cuối, như đang giữa thủ đô cờ đỏ sao vàng Hà Nộị Các sư Trí Quang,
Thiện Minh chỉ là những kẻ cho mượn danh nghĩa, các chùa Từ Đàm, Diệu Đế
chỉ là diễn trường của những vở bi hài kịch, và lá cờ PG chỉ là một cái vỏ
bọc ngoài của một cái nhọt chánh trị đă tới hồi cương mủ, phải được x́ ra.
Nếu bạn đọc là những người từng theo dơi thời cuộc nước nhà trong những
tháng từ 5 đến 11, năm 1963, chắc hẳn chưa quên tờ báo "LẬP TRƯỜNG", với
nhóm cán bộ CS nằm vùng đứng đầu là BS Lê Khắc Quyến. Ngay từ lúc này, chi
bộ Thuận Hóa của bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh em nhà
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê
Văn Hảo (hiện đă đào tẩu thiên đàng CS, chạy qua Paris rồi!),
Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Thân Trọng Phước, Vơ Đ́nh Cường, cư sĩ PG, tác
gỉa cuốn "ÁNH ĐẠO VÀNG"... đă nhập cuộc. Hiện nay Lê Khắc Quyến đă chết
rồi, nhưng các đồng chí của ông ta vẫn c̣n sống và đang hoạt động cho CS.
Bây giờ Vơ Đ́nh Cường đang phụ trách báo "GIÁC NGỘ", ở đường Nguyễn Đ́nh
Chiểu, (tên cũ Phan Đ́nh Phùng) là một tờ báo của tổ chức PG quốc doanh
Hơn thế nữa, nhóm CS nằm vùng này lại c̣n lập ra một tổ chức nhân dân hoàn
toàn rập khuôn theo kiểu CS, với cái danh xưng cũng nồng nặc mùi CS là:
"HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC". Chính Lê Khắc Quyến đă đứng tên chủ tịch của
Hội Đồng. Nhóm ấy đă núp dưới danh nghĩa PG đấu tranh, lợi dụng t́nh thế
rối loạn ở miền Trung, ngày 21. 9. 1964 đă tụ tập và kéo nhau đến đánh
chiếm đài phát thanh Huế, đốt phá nhiều cơ sở chánh quyền ở Huế và Qui
Nhơn... Đêm 23.1.65, bọn "HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC" của Lê Khắc Quyến
c̣n kéo nhau đến pḥng thông tin Mỹ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ, gây
thiệt hại trên 5000 quyển sách. Khi đó, ông phó lănh sự Mỹ hay tin, đến
nơi lo chữa cháy để cứu sách trong thư viện cũng đă bị bọn tay chân bộ hạ
của Lê Khắc Quyến chọi đá vào ông ta, khiến ông ta đă bị thương trầm
trọng, phải đưa vào nhà thương cấp cứụ Hành động lợi dụng danh nghĩa PG
đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo, bọn Lê Khắc Quyến và HĐNDCQ của hắn đă
phá rối nền trị an ở Huế đến cùng cực. Những ai đă từng ở Huế trong thời
gian này đều không khỏi ngao ngán, tưởng chừng như là một nơi "VÔ CHÁNH
PHỦ" hay CSBV sắp vào tiếp thu đến nơi rồi! Mặc dù Lê Khác Quyến và đồng
bọn đă hành động phản bội quân dân miền Nam cách trắng trợn và công khai
như thế - chỉ c̣n thiếu việc kéo cờ đỏ sao vàng lên Ngọ Môn Quan nữa mà
thôi! - nhưng hắn vẫn không bị điều tra, và chẳng gặp chút khó khăn nào
trước chánh quyền và luật pháp. Ngược lại, bọn độc tài quân phiệt Dương
Văn Minh, Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu... vẫn c̣n trọng dụng và ưu đăi
hắn.
Ngày 8. 9. 1964, Lê Khắc Quyến và Tôn Thất Hanh đă được bổ nhiệm vào cái
gọi là: "THƯỢNG HỘI ĐỒNG QUỐC GIA".
Sau đó Lê Khắc Quyến lại c̣n được đổi vào Sài G̣n cho làm giám đốc bệnh
viện Sùng Chính, trong Chợ Lớn. Vây, Lê Khắc Quyến là ai? Nhân dân cố đô
Huế không ai lạ ǵ ông bác sĩ đă được hưởng nhiều ơn mưa móc nhất của gia
đ́nh nhà họ Ngô trong suốt 9 năm trời. Đồng thời người dân xứ Huế cũng
thừa biết ông ta là người "thân với bên kia"!
LÊ KHẮC QUYẾN LÀ AI?
Ngay từ
khi ông Diệm chưa về nước chấp chánh, năm 1952, BS Lê Khắc Quyến đă được
gia đ́nh nhà họ Ngô mời làm y sĩ riêng cho thân mẫu của ông Diệm. Đến khi
ông Diệm về nước, làm thủ tướng, rồi làm tổng thống, quyền uy lừng lẫy một
thời, ở ngoài Trung, ông LK Quyến ra vào dinh Phủ Cam hàng ngày như ra vào
nhà của ông. Ngoài những ưu đăi về vật chất và thế lực chánh trị, LK Quyến
c̣n được ông Diệm tặng riêng cho một chiếc xe du lịch hiệu Mercedes, trị
gía khoảng 200.000 đồng. Thời kỳ 1955-56, loại xe này được qui định là xa
xỉ phẩm, cấm nhập cảng cho quần chúng xử dụng. Xe đó thuộc chế độ ưu tiên
nhập cảng, chỉ dành riêng cho chánh phủ và một số dân biểu gia nô trong
quốc hội đệ nhất Cộng Ḥa. Tưởng cũng nên nhắc lại một chút dữ kiện để bạn
đọc trẻ tuởi ở hải ngoại dễ h́nh dung trị gía của số tiền 200.000 đồng VN
thời 1955-56. Lúc ấy, người công chức chỉ được lănh mỗi tháng khoảng 1.800
đồng. Với số lương đó, người ta có thể nuôi được vợ và một đứa con! Nhờ
dựa vào thế lực nhà Ngô, LK Quyến c̣n được dạy học tại đại học Y Khoa Huế,
và sau đó kiêm luôn chức khoa trưởng Y Khoa, thuộc viện đại học Huế.
Trong thời kỳ này chi bộ Thuận Hoá, dưới quyền chỉ huy của cán bộ LK Quyến
vẫn âm thầm hoạt động, thật kín đáo, để không bị lộ tung tích. Dù bận rộn
một lúc nhiều chức vụ, nhiều công việc quan trọng, như: y sĩ riêng cho bà
thân mẫu TT Diệm, giáo sư, khoa trưởng phân khoa y học, bác sĩ LK Quyến
vẫn cố gắng duy tŕ pḥng mạch của ông, đă mở từ trước năm 1952, tại gần
cửa Thượng Tứ, Huế. V́ chính nơi đây là trạm giao liên, đồng thời c̣n là
trạm cứu thương, đặc biệt dành cho các cán bộ CS cao cấp thường lén về nằm
điều trị. Pḥng mạch của LK Quyến đă được trang bị chẳng khác nào như một
bệnh xá, có nhiều giường điều trị, với đầy đủ tiện nghi tối tân cấp cứu và
giải phẫu ngoại khoa.
Bệnh nhân, nếu là thường dân, muốn đến pḥng mạch của BS Quyến để khám
bệnh phải xin thẻ trước, lấy số trước, hoặc phải lấy ngày, giờ hẹn trước.
Nhưng các cán bộ CS, đồng chí của BS th́ được ưu tiên nhận bệnh và ưu tiên
điều trị, không cần phải có một thủ tục nàọ Bởi các bệnh nhân đặc biệt ấy
đă được thông báo trước bằng giao liên, hay bằng mật mă, ám hiệu, hoặc
bằng khẩu hiệu đặc biệt của cơ sở, trong trường hợp nghiêm trọng và cấp
bách. Tôi xin đơn cử một trường hợp điển h́nh, cụ thể, mà tôi đă biết
được. Dĩ nhiên, c̣n vô số trường hợp khác nữa, mà tôi không biết hết. Vào
khoảng mùa Hè, năm 1952, một cán bộ CS hạng gộc, tên Oanh, thuộc xă Hương
B́nh, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, con ông Viên Tứ, khá nổi tiếng ở
Huế, đă bị “cảm sốt cấp tính” rất nặng, có thể nguy đến tính mệnh, đă được
BS Quyến đặc cách nhận bệnh, và chữa trị trong pḥng riêng của pḥng mạch,
không ghi vào sổ nhận bệnh hay danh sách bệnh nhân. Tóm lại không để lại
một dấu vết nào của tên Oanh trong hồ sơ.
Nhân viên trong pḥng mạch của BS Quyến đều là cán bộ giao liên của CS.
Ngoài một người y tá đàn ông, tên Nuôi, c̣n có một nữ y tá tên Thảo, người
ở thôn Vỹ Dạ, Phú Vang, đă có chồng đi tập kết. Đến sau năm 1954, nữ y tá
Thảo của BS Quyến cũng bỗng nhiên biến mất khỏi pḥng mạch, không ai biết
đi đâu, và cũng chẳng ai t́m ra tông tích. Về sau, trong thời kỳ Tết Mậu
Thân, người dân đất Thần Kinh mới đột nhiên hoảng vía khi thấy vợ chồng nữ
y tá Thảo th́nh ĺnh xuất hiện. Theo tôi, người biết rơ tông tích của BS
Lê Khác Quyến nhất, hiện nay c̣n đang sống ở Pháp, là ông Vơ Như Nguyện,
người đă từng giữ chức giám đốc Công An Trung Phần từ trước năm 1954. C̣n
thiếu tướng Đỗ Mậu, tuy đă từng nắm chức vụ giám đốc Nha An Ninh Quân Đội
trong một thời gian khá lâu dài, dưới thời đệ nhất CH, nhưng cũng đă tỏ ra
không biết ǵ nhiều về mặt trái của LK Quyến. Có thể TT Đỗ Mậu đă e ngại
tư thế của LK Quyến, y sĩ điều trị riêng cho thân mẫu của tổng thống Diệm,
và là người đă được ông Cẩn rất trọng nể, nên không dám sờ đến.
Trong
quyển hồi kư VNMLQHT, khi đề cập đến những biến động dữ dội tại miền
Trung, dưới thời kỳ tướng râu dê Nguyễn Khánh cầm quyền, tác gỉa cũng chỉ
nhận xét về BS Lê Khắc Quyến bằng một câu đơn giản như sau: "Trong hàng
ngũ đấu tranh Phật Giáo, trước hết có các ông Lê Khắc Quyến, chủ tịch Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là một phần tử thân kháng chiến mà nhiều người ở
Huế biết rơ." (trang 912).
Về mặt
nổi LK Quyến làm chủ tịch HĐNDCQ, nhưng về mặt ch́m, LK Quyến c̣n là chi
bộ trưởng của chi bộ Thuận Hoá của CSBV.
Thành
phần cán bộ đảng viên gồm những người có tên sau đây: Tướng Lê Văn Nghiêm,
trước năm 1954, khi quân Pháp vừa thất trận Điện Biên Phủ, đồng thời cũng
là lúc mặt trận chánh trị Quốc-Cộng ở VN đang sôi động nhất, đă vội vă đem
dâng toàn bộ bản đồ hành quân, có chấm tọa độ sẵn, trao cho người thân tín
đem ra khu cho CS. Người đó là thầu khoán Nguyễn Ngọc Bang, một đồng chí
của Lê Khắc Quyến và Lê Văn Nghiêm.
Lúc bấy
giờ Lê Văn Nghiêm đang mang lon trung tá. Ông ta vốn xuất thân lính khố
xanh. Nhờ đă lập được nhiều công trạng hữu ích cho cách mạng từ nhiều năm
qua, nên sau năm 1975, cựu tướng Lê Văn Nghiêm đă không bị quân CSBV bắt
đi học tập cải tạo như hàng trăm ngàn sĩ quan khác trong quân đội Ngụy
quyền miền Nam. Ông ta đă được CSBV ưu đăi cho ở nhà hú hí với vợ con, tại
đường Lư Thường Kiệt, ở Huế, cho đến khi chết. Lê Văn Nghiêm vốn là bạn
thân với BS Lê Khắc Quyến, Nguyễn Ngọc Bang và Nguyễn Ngọc Bang vốn làm
nghề thầu khoán xây cất, khá nổi¼Thân
Trọng Phước tiếng ở miền Trung. Vào khoảng năm 1984, Nguyễn Ngọc Bang đă
được sang Mỹ tị nạn theo diện đoàn tụ gia đ́nh, nhưng ông ta đă qua đời
khoảng năm 1991.
Một cán bộ CS khác tên Trí, làm nghề thợ mộc, có xưởng mộc tại đường
Nguyễn Hoàng (tên cũ) ở Huế. Trong vụ tàn sát ở Huế dịp tết Mậu Thân, tên
Trí đă lập thành tích lớn, một tay đă giết khá nhiều người.Theo hồi kư của
tướng CS Lê Minh (nay đă chết) có đoạn ghi nguyên văn như sau: ”Riêng
chuẩn bị cho Mậu Thân chúng tôi đă đưa 200 khẩu súng với chất nổ C4 vào
bên trong nhà anh Lê Hữu Trí, Minh-Cận đều chứa vũ khí ”.Ngoài ra, tôi c̣n
được biết thêm: Tên Trí đă hoạt động cho CS từ thời Pháp c̣n ở VN, rồi đến
đệ nhất và đệ nhị CH không hề bị khó dễ. Tôi càng ngạc nhiên khi thấy các
cơ quan an ninh dân sự lẫn quân sự đều làm lơ trước những hành động phi
pháp của hắn. Tôi thấy, trước khi vụ tết Mậu Thân diễn ra, nếu chính quyền
VNCH ở địa phương bắt tên Trí và đồng bọn, th́ hàng vạn đồng bào ở cố đô
Huế đâu đă bị chết thảm trong bàn tay tàn ác của quân CSBV! (Vậy mà tướng
Trưởng, lúc bấy giờ là người có trách nhiệm bảo vệ Huế, c̣n dám trơ trẽn
chạy tội, tuyên bố với báo chí là ông ta đă áp dụng chiến thuật... ” dụ
địch”! Tội ấy với lời nói ngu xuẩn này thực đáng đem ra xử bắn tại chỗ
theo quân pháp ).
Sau ngày
30.4. 75, người dân xứ Huế đă thấy tên thợ mộc Trí, một đồng chí trong chi
bộ Thuận Hóa của BS Quyến, đă xuất hiện hoạt động công khai cho chánh
quyền CS tại địa phương. Ngoài ra, chi bộ Thuận Hoá của BS Quyến c̣n có 2
vợ chồng tên Hiển, làm nghề bào chế thuốc tây (préparateur en pharmacie).
Vào
khoảng năm 1950-51, tên Hiển đă bị Tây hành quân, phục kích bắn chết trong
một đêm kia tại bến đ̣ "BA BẾN", nằm về phía quận Hương Thủỵ C̣n người vợ
của Hiển, sau đó cũng đă bị khai trừ ra khỏi đảng, không hiểu v́ lư do ǵ.
Hiện nay người đàn bà này đang sống tị nạn tại Canada, gần chỗ tị nạn của
mấy người con của BS Quyến, và mấy người con của tướng Lê Văn Nghiêm.Nếu
bạn đọc c̣n chưa hài ḷng về những thành tích nằm vùng, ăn cơm quốc gia
thờ ma CS của bác sĩ Lê Khắc Quyến, th́ đây, tôi xin kể tiếp một bằng
chứng nữa:Chuyện không may này bất ngờ đă xảy ra vào khoảng cuối năm 1962.
Hôm ấy, ty Công An tỉnh Thừa Thiên đă tŕnh sang ṭa hành chánh tỉnh một
công văn "MẬT" có liên quan đến BS Quyến. Người tiếp phát công văn "MẬT"
ấy là Công Tằng Tôn Nữ Như, một nữ tu xuất, em của ông Bửu Đồng (ở Đức*)
và là chị của ông Bửu Sao (ở Orlando, Mỹ), con ông Ưng Trạo, có trách
nhiệm trước tiên vô sổ công văn, ghi trích yếu, rồi mới phân phối ra, đệ
tŕnh lên cấp thẩm quyền giải quyết. v́ công văn "MẬT" này có tầm mức quan
trọng đặc biệt, nên giới chức trong ṭa tỉnh đă phải cấp tốc tŕnh thẳng
lên ngay cho ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng duyệt xét. Nội dung công văn
MẬT ấy như sau:
-"Một xe chở đầy thuốc tây đă bị lật trên lộ tŕnh Cầu Hai - Lăng Cô, quốc
lộ 1, thuộc địa phận quận Phú Lộc. Người phụ trách chuyến xe chở thuốc tây
này tên là Phạm Văn Nhân, nhân viên tùng sự tại bệnh viện Huế. Trong cuộc
thẩm vấn sơ khởi của công an, Phạm Văn Nhân khai là chở thuốc tây cung cấp
cho chi y tế quận Phú lộc, theo lệnh của BS Lê Khắc Quyến, giám đốc bệnh
viện..."Theo tường tŕnh của công an tỉnh th́ lời khai của Phạm Văn Nhân
hoàn toàn sai sự thật. V́ 2 lẽ sau đây:- Vấn đề giao thuốc tây cho các Chi
Y Tế thuộc phần việc và trách nhiệm của Ty Y Tế tỉnh, tuyệt nhiên không
liên quan ǵ đến bệnh viện Huế, dưới quyền điều khiển của BS Quyến.
- Chi Y Tế Phú Lộc nằm tại Truồi, quận lỵ, chứ không phải Cầu Hai - Lăng
Cô. Nên biết rằng từ Lăng Cô đến đèo Hải Vân không xa mấỵ Nơi đây vốn là
địa điểm giao liên quan trọng của Cộng Sản suốt trong thời kỳ chiến
tranh.Theo tường tŕnh của công an tỉnh th́ đây là vụ tiếp tế thuốc tây
cho CS, và bởi thế nên công an đề nghị nên cần phải thẩm vấn BS Quyến, rồi
lập các thủ tục cần thiết chiếu theo luật định.V́ công văn này chỉ là bản
sơ tŕnh, nên cần phải được cấp trên cho phép tiến hành thủ tục thẩm vấn,
nhiên hậu mới có thể thiết lập hồ sơ theo luật định. Sau khi hồ sơ đă hoàn
tất mới tái tŕnh lên ṭa tỉnh và các cơ quan thẩm quyền liên hệ, để thực
hiện giai đoạn chót của thủ tục là truy tố can nhân và ṭng phạm ra ṭa
án. Nhưng công văn MẬT này của Ty Công An tỉnh đă bị một bàn tay cao cấp
nào đó trong guồng máy chánh quyền thủ tiêu luôn. Thế là nội vụ bị xử ch́m
xuồng, và tội tiếp tế thuốc tây cho CS của BS Quyến cũng được ếm nhẹm
luôn.
Điều đáng nói thêm ở đây, nhân viên có trách nhiệm tải thuốc tây cho CS
tên Phạm Văn Nhân lại chính là cháu ruột của Phạm Văn Đồng, lúc bấy giờ
đang làm thủ tướng chánh phủ CSBV, anh em với giáo sư Việt Văn Phạm Văn
Diêu, ở Sài G̣n. Anh Phạm Văn Diêu lớn hơn tôi vài tuổi và đă dạy chung
với tôi trong nhiều trường tư thục ở Sài G̣n. Dịch vụ tiếp tế thuốc tây
cho CS ở miền Nam, trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhất là dưới thời các
tẩu tướng tham nhũng, thối nát cầm quyền, đă trở thành gần như "CÔNG KHAI
PHỔ BIẾN". Chẳng tin, xin cứ hỏi các ông bà chủ các viện bào chế như:
Trang Hai, La Thành Nghệ, Nguyễn Cao Thăng, Trương Văn Chôm, và các dược
sĩ như: Ngô Khắc Tĩnh, Trần Văn Lắm, cựu chủ nhân nhà thuốc tây Cường Lắm,
ở góc đường Thủ Khoa Huân và Lê Thánh Tôn, gần tiệm vàng con cọp Nguyễn
Thế Tài...th́ rơ!
Để có một cái nh́n chính xác về biến động miền Trung, tôi nhận thấy cá
nhân ông Diệm là người có tư cách đạo đức hơn hẳn nhiều người khác mà tôi
đă có dịp biết. Ông Ngô Đ́nh Nhu xứng đáng là người trí thức, có mưu lược,
tư tưởng phóng khoáng, quan niệm về tôn giáo và chánh trị rất dứt khoát.
Hai ông ấy không cuồng tín và chủ trương kỳ thị tôn giáo như ông Ngô Đ́nh
Thục. Nên nhớ là vào khoảng năm 1956-57, tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă duyệt
y việc thành lập Phật giáo thống nhất, cho phép các khuôn hội, Niệm Phật
Đường mở cửa tự do, và các Phật tử trên toàn quốc dược tự do đi lại hành
lễ, không có ai cản trở hay làm khó dễ điều ǵ.
Như thế chắc chắn lệnh cấm treo cờ trong dịp lể Phất Đản năm Qúi Măo là do
sự đốc thúc của ông Thục. Ông Thục muốn phục vụ đắc lực "nước Chúa" của
ông, nhưng không ngờ lại di hại cho toàn thể các em trong gia đ́nh ông,
khiến những người này đều bị chết thảm! Riêng ông Thục đă may mắn thoát
thân, khỏi bị nhân dân đ̣i nợ máu, ngay trong khi biến cố trọng đại của
đất nước c̣n đang diễn tiến.
Ngày xưa, nếu nhà vua mù quáng mà có được bầy tôi trung thành, nghĩa khí,
như Biển Thước dám mắng tận mặt vua Tần Vũ Vương, th́ dù cho ông vua có
hôn mê, đần độn đến đâu cũng phải tỉnh ngộ, và đất nước lo ǵ không có
ngày hưng thịnh. Ngược lại, ngay từ đầu, triều đ́nh nhà Ngô đă bị bao vây
bởi một số linh mục di cư chỉ biết có quyền lợi trước mắt. Đến khoảng cuối
thập niên 50 sang đầu thập niên.
|