GIẢI THÍCH BÚT HIỆU HỒ CÔNG TÂM
Người ta vẫn thường nói, “Cái Tôi là cái đáng ghét”! Tôi rất ngại phải nói về ḿnh, phải viết hồi kư, phải phân trần mất th́ giờ với thiên hạ về một sự hiểu lầm, thậm chí xuyên tạc một cách ác ư về ḿnh! Nhưng than ơi, ở đời có những việc không thích nói, không thích làm, mà vẫn phải nói, phải làm!
Khoảng giữa năm 1969 khi tôi đang giữ chức vụ Trưởng Ban Chính Huấn Trung Đoàn 50 BB, (thời Trung tá Ngô Thiệm Thắng là Trung Đoàn Trưởng, Đại úy Lăng là Trưởng Ban TLC, Thiếu úy Điển, nữ quân nhân là TB Xă Hội) được biệt phái trở về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Mặc dầu đă từ giă vũ khí đă 6 năm, trở về tiếp tục nghề dạy học, vậy mà CSVN vẫn bắt tôi phải đi tŕnh diện học tập cải tạo lao động. Thời gian tù cải tạo là 5 năm 8 tháng 20 chục ngày qua các trại giam và cải tạo lao động tại Sân Bay Cần Đốt Long An, Vườn Đào Cai Lạy Mỹ Tho, Nhà Giam Rạch Cốc, Trại Cải Tạo 2 Ty Công An Long An, Trấp Bồn Bồn Mộc Hóa, v.v… Các cải tạo viên cùng thời gian với tôi ở các trại giam và cải tạo này đều biết nhân cách và thái độ “cải tạo” của tôi đối với bọn cán bộ bảo vệ và quản giáo trong trại tù ra sao. Tôi chưa hề đứng trước kẻ thù mà nhận ḿnh là “Ngụy”. Khi phải phát biểu không bao giờ tôi gọi chế độ VNCH của ḿnh là “Chế Độ Ngụy” như một số cải tạo viên khác. Tôi gọi là Chế Độ Cũ hoặc Chế Độ Sài G̣n. Tôi thường nói với cải tạo viên làm ăng-ten, ŕnh rập anh em bạn tù để báo cáo với cán bộ trại rằng: “Nhà tao không có mả làm ăng-ten, làm chó săn, ḍng họ tao chỉ làm 2 nghề là nghề thầy thuốc và nghề dạy học!” Tôn chỉ của tôi ở trong tù cải tạo là ‘Tuyệt đối không khúm núm qụy lụy, để mất tư cách trước kẻ thù – thà chúng mày ghét tao nhưng mày phải nể tao; chứ tranh thủ để mày thương tao mà mày khinh tao là không được. Trong suốt thời gian ở tù trại cải tạo lao động, mặc dầu mỗi ngày phải đào kinh, trên 10 thước khối đất, tôi chưa hề khai bệnh xin nghỉ một ngày nào. Bởi thấy mỗi lần cải tạo viên khai bệnh nhức đầu sổ mũi xin nghỉ lao động th́ cán bộ chúng nó hoạnh họe, nhục lắm. V́ tù ở các trại lao động trong tỉnh Long An nên được gia đ́nh tiếp tế đầy đủ, kể cả thuốc men. Những ngày Chủ Nhật, ngồi uống trà, cà phê hoặc hút thuốc “đầu bằng”, không hút thuốc rê (vê?), cán bộ chúng nó đi qua, đi lại, tôi ngồi tỉnh bơ, không thèm mời chào. Bởi có nhiều đứa khúm núm, săn đón mời chào cán bộ, xun xoe xưng em với chúng, mời anh uống cà phê, anh hút thuốc, coi không được. Ai ở Trại Giam Rạch Cốc vào năm 1978, năm Th́n nước lớn nhiều nơi nước ngập lưng mái tôn. Tôi đă quát mắng một thằng đại diện trại, c̣n nhớ, tên nó là Mai Ḥa Đường, trước 75 nó là tỉnh đội trưởng Xây Dựng Nông Thôn, nay là một cải tạo viên chuyên điếu đóm nịnh bợ Ban Quản Giáo: “Ê, Đường, ở đây chỉ có tù với tù thôi! Không có tù mặt rô. Mày nói với tao mà mày xỉa xói vào mặt tao. Mày có bỏ tay xuống không, tao đập và mặt mày bây giờ.” [Không biết bạn Trung úy Nguyễn Tấn Phước, đạo Ḥa Hảo, gốc ở tỉnh An Giang cùng tù với tôi ở trại này, nay lưu lạc nơi nào?]
Tôi làm thơ từ trước năm 1954 ở Hà Nội. Nhưng khi di cư vào Sàig̣n không làm thơ đăng báo nữa. Chỉ khi ở tù Cải Tạo CS sau năm 1975 tôi mới làm thơ trở lại, dùng thơ như một thứ vũ khí để đánh kẻ thù.
Đơn cử một hai bài thơ tôi làm trong trại tù cộng sản
LẠI CHUYỂN TRẠI GIAM
Xe lao vội vă qua đường phố
Chở lũ tù nhân xuống Bến Đ̣
Dân đứng xa… nh́n theo nhớn nhác
Ngập ngừng qua ánh mắt âu lo
Người đông, thuyền hẹp, thay nhau đứng
Ngột ngạt như vừa bước xuống hang
Ai nấy mồ hôi tuôn ướt đẫm
Hơi người hừng hực nhốt đầy khoang
Sẩm tối, thuyền neo Đồn Rạch Cốc
Một đoàn lầm lũi bước trong mơ
Mưa tuôn ầm tă dài vô tận
Cửa biển gào lên sóng đạp bờ
Ếch nhái bên đường kêu thảm thiết
Cḥi xa leo lét ngọn đèn chong
Băi hoang cỏ ngập, mưa từng vũng
Sừng sững đồn cao đứng áp sông
Công an miệng hét, tay gờm súng
Áp giải tù nhân đến trại giam
Cổng sắt nặng nề hai cánh mở
Bước vào điểm số đủ năm lăm
Pḥng giam ẩm thấp mùi hôi hám
Cửa khóa, tù nhân dọn chỗ nằm
Gối đất đêm dài thao thức măi
Trở ḿnh… mơ súng vọng xa xăm!
(Nhà Giam Rạch Cốc, 19.9.1978)
BẮT GẠO
Làng TânTập trông sang Rừng Sát
Bên kia đồn Rạch Cát công an
Mẹ già nuôi một đàn con
Nhà nghèo, gạo hết, biết c̣n chạy đâu
Con nheo nhóc hái rau… trừ bữa
Mẹ vào rừng… vác rựa đốn cây
Hôm nay, củi được suồng đầy
Đem về hí hửng phen này có ăn
Gạo khan hiếm, quư hơn vàng ngọc
Có chút tiền khó nhọc ră rời
Gạo đâu mua được, hỡi trời
Bốn bề hiu quạnh rối bời ruột gan
Chạy xuôi ngược vào làng ra chợ
Măi xế chiều được mớ gạo hôi
“Gạo đây! Mẹ kiếm mua rồi
Trăm ngàn cay đắng, thuở đời tối tăm!”
Năm thước củi đổi năm kư gạo
Mừng gia đ́nh có cháo cầm hơi
Đường quê hiu hắt mưa rơi
Chó gầy nằm ngó nh́n trời xám đen
Xách túi gạo, mẹ len từng bước
Lấm lét nh́n ngơ trước vườn sau
Ḱa công an núp mé hào
Lăm lăm tay sung ào ào xông ra
Trời đất! Mẹ xót xa trong dạ
Chúng tới rồi, chạy ngả nào qua
Tiểu yêu độc ác ranh ma
Quyết làm khó dễ bết mà liệu sao?
“Ê đứng lại! Một bao đồ lậu!
Có phép không? Định giấu đi đâu?
Gạo buôn lậu (!) phải tịch thâu!”
Ôi thôi, trời thảm, đất sầu bao la!
Ḍng lệ tủi tuôn nḥa khóe mắt
Thân mẹ gầy, héo hắt, run run
Vội vàng mọp xuống, vái lên
Một trăm lạy, cúi xin trên tha về!
Con tôi hiện năo nề đói khát
Mấy hôm rồi không bát cơm ăn
Tôi đâu nào phải phường gian
Bấy nay kiếm củi lầm than qua ngày!
Nhưng ḷng dạ một bầy thú vật
Có khi nào thương xót ai đâu
Vung tay nạt nộ hồi lâu
Giật phăng túi gạo, kéo nhau qua cầu!
Ngó trời rộng một màu xám ngắt
Thương đàn con như cắt ruột đau
Nh́n sông Soài Rạp đục ngầu
Thân già những muốn lao đầu sóng trôi!
Bọn khuyển mă về nơi trụ sở
Huưt sáo mừng rực rỡ chiến công
Gạo đầy kho, chất chồng chồng
Mỉm cười, thủ trưởng hả ḷng ban khen
“Đúng nguyên lư Lê Nin đă dạy
Đồng chí thi hành vậy rất hay
Muốn an trị bọn dân cày
Phải tăng quản lư gạo ngay tức th́!”
(Nhà giam Rạch Cốc, 11.11.1978)
Chuyện bắt gạo do người tù cải tao Trung Úy Nguyễn Tấn Phước, dân Ḥa Hảo, làm bếp trưởng trong trại giam, ngày được đi theo cán bộ trại ra chợ mua rau cỏ về nấu ăn, tối vào pḥng giam nàm cạnh tôi. Phước thủ thỉ kể cho tôi nghe chuyện anh chứng kiến ở bên ngoài vùng Cần Đước, G̣ Công, Long An. Tôi bèn viết nôm na theo thể thơ Song Thất Lục Bát cho dễ nhớ ngay trong tù đêm đó.
* * *
Tôi tên trên căn cước, trong giấy khai sinh, khi vào quốc tích Mỹ vẫn giữ nguyên là ĐỖ NGỌC MINH. [Có người anh ruột hơn tôi hai tuổi, tên là Đỗ Mạnh Nghiêm, trước ngày miền Nam mất về tay Cộng Sản Bắc Việt là Bác Sĩ Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Nguyễn Văn Nhứt ở Vũng Tàu, được các Sĩ quan tỉnh trưởng, thị trưởng rất quư. Trước ngày 30/4/1975 Thị Trưởng mời anh tôi bỏ Bịnh Viện, xuống tàu đà thoát ra Hạm Đội số 7. Nhưng ông ấy thấy binh sĩ bị thương nằm la liệt trong Quân Y Viện, nên ở lại săn sóc cho các quân nhân bị thương điều trị tại Quân Y Viện Vũng Tàu, không nỡ bỏ nước ra đi một ḿnh. Năm 1979, anh tôi vượt biên bằng đường bộ bị CSVN bắt và dẫn ra đập chết mất xác trên đất Miên. Mấy người bị giam chung được thả về kể rằng tối hôm đó bộ đội VC vào pḥng giam gọi anh ôi ra hành h́nh, anh ấy trên ḿnh c̣n chiếc áo ấm, cởi ra đưa cho một người tù ở lại, và b́nh tĩnh ra khỏi pḥng. Và anh ấy không về nữa. Gia đ́nh chị dâu của chúng tôi, vợ BS Đỗ Mạnh Nghiêm, mặc dầu khi chông mất mới ngoài 30 tuổi nhưng vẫn nhất quyết ở vậy nuôi các con thơ nên người. Ba đứa con của anh chị Đỗ Mạnh Nghiêm nay đều thành đạt nên danh phận cả, hiện cư ngụ tại Nam California.]
Ở trại Tị Nạn Phanat Nikhom năm 1983 nhiều bạn hỏi tôi tại sao ông làm thơ chống Cộng quyết liệt như thế mà ông lại lấy bút hiệu là HỒ CÔNG TÂM, ông không ngại mang cái họ Hồ với Hồ Chí Minh hay sao? Tôi chỉ cười trả lời rằng; “Th́ thằng Hồ Chí Minh trên giấy tờ hộ tịch khai sinh từ thời Pháp thuộc, nó đâu có phải là họ Hồ! Nó tên là Nguyễn Sinh Cung sau đổi là Nguyễn Tất Thành, con của ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nó đâu phải họ Hồ!”
Có đứa nham nhở, vô lại c̣n chụp mũ tôi là mê Cộng Sản, bỏ họ ĐỖ lấy họ HỒ! Suốt mấy chục năm qua, tôi chẳng buồn trả lời.
Băng đảng Việt Tân và VC nằm vùng chúng nó bảo tôi tôn thờ Hồ Chí Minh (tay sai Trung Cộng) và Hồ Cẩm Đào (chủ tịch Đảng và Nhà nước CHND Trung Quốc) chúng nó rêu rao rằng tôi bỏ họ ĐỖ lất bút hiệu Hồ Công Tâm là tôi tôn thờ hai thằng Hồ Chí Minh và Hồ Cẩm Đào, kết án tôi là tay sai tập đoàn bán nước theo rợ Hán rợ Hồ đấy có rẻ tiền không!
Trong giới cầm bút ngày nay, có nhiều nhà văn, nà thơ thành danh, cũng lấy bút hiệu bắt đầu bằng chữ HỒ vậy.
Như nhà thơ Hà Huyền Chi, c̣n có một bút hiệu là HỒ AN được kư dưới những bài thơ “gai” của ông. Tôi nghĩ cái bút hiệu HỒ AN, “chiết tự”, do chữ HOÀN mà ra. Tên thật của nhà thơ này là ĐẶNG TRÍ HOÀN. HOAN = HỒ AN!
Nhà văn HỒ TRƯỜNG AN, tên thật là Nguyễn Viết Quang, V́ quá mê văn của Hồ Biểu Chánh, một nhà văn có tài phóng tác nổi tiếng ở miền Nam hồi đầu thế kỷ 20 vừa qua, nên tự xem ḿnh là hậu duệ, truyền nhân của cụ Đốc Phủ Sứ này vậy.
C̣n tôi, tên trên giấy tờ hộ tịch VNCH, và trên giấy tờ American Citizenship là DO NGOC MINH, trước sau không đổi .
Tôi sinh quán ở Hà Nội, Bắc Việt, di cư vào Sài G̣n, miền Nam năm 1954! Trước 30/4/1975 tôi làm nghề gơ đầu trẻ ở một số trường Trung học. Bị động viên, thụ huấn quân sự tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, ra trường ở quân ngũ khoảng 4 năm th́ được biệt phái trở về Bộ Quốc Gia Giáo Dục, tiếp tục nghề dạy học.
Sau khi miền Sài G̣n thất thủ, miền Nam nhuộm đỏ, tôi bị cưỡng bức tập trung cải tạo lao động, dài 5 năm, 8 tháng, 20 ngày!
Tôi rất căm bọn Cộng Sản ngu dốt đă có chính sách trả thù một cách ngu xuẩn đối với các quân cán chính của chế độ VNCH nên làm thơ chống Cộng ngay ở trong tù. Ra tù được Sáu Đức, Trưởng Ty Thông Tin Văn Hóa, Giáo Dục, Bí Thư Tỉnh Ủy Long An, nhà cách nhà tôi một căn, ngỏ ư cho tôi tiếp tục dạy học ở Trung hoc thị xă Tân An, nhưng tôi nghĩ ḿnh chẳng có tội lỗi ǵ mà chúng nó nhốt ḿnh tù cải tạo lao động gần 6 năn, bây giờ lên bục giảng phải nói tốt cho chế độ phi nhân của chúng nó th́ đau quá, bèn nhă nhặn kiếm lời từ chối thiện chí của ông kẹ bên hàng xóm.
Khi người bạn thân trong trại tù cải tạo lao động Trấp Bồn Bồn, Mộc Hóa, tên là Nguyễn Thanh Hoàng được thả về. Anh được thả về trước tôi, có nhă ư giúp tôi chuyển những bài thơ tôi làm trong tù về cho gia đ́nh cất giữ. Tôi đă vận dụng chép thơ ra những tờ giấy nhỏ để anh luồn giấu gọn vào giữa tấm mền rồi khâu khíu lại. Khi tôi được thả về, anh Nguyễn Thanh Hoàng (hiện định cư tại Australia) cùng người bạn thân của anh là bác sĩ Hoàng Công Khanh (hiện định cư tại Hoa Kỳ) trước 1975 là Trưởng Ty Y Tế Long Xuyên, rủ tôi cùng đi vượt biên trên chuyến ghe 31 người, xuất phát từ Tắc Cậu, Rạch Giá, tới Giàn Khoan trên Vịnh Thái Lan ngày 30/4/1983. Khi được chuyển từ trại tị nạn Songkhla sang trại Phanat Nikhom, tôi gặp anh bạn nhà thơ Lâm Tương Dũ và nhà báo Viên Luông (hiện đang làm báo ở Quận Cam, thủ dô Tị Nạn). Hai anh cho tôi một số địa chỉ mấy tờ báo phát hành ở Mỹ và Gia Nă Đại. Tôi bèn chép ra một số những bài thơ tôi đă làm trong tù gửi cho nhà văn Mai Thảo đăng trên tờ tạp chí Văn (dường như số tháng 3, tháng 4 năm 1984) đăng tải cả chục bài trên nhiều trang liên tiếp trong cùng một số báo. Và gởi thơ cho nhà văn Nguyễn Mộng Giác đăng trên tờ Văn Học Nghệ Thuật do Vơ Phiến, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác chủ trương. Và sau đó cộng tác với hai tờ tạp chí Lửa Việt của Bùi Bảo Sơn và Hải Triều Lê Khắc Anh Hào, và tờ Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa, rồi tờ tạp chí Nhân Văn của Vơ Hoàng và Tưởng Năng Tiến ở San Jose, vân vân…
V́ khi tôi đi vượt biên tới trại tị nạn ở Thái Lan th́ toàn bộ gia đ́nh tôi trước năm 1983 c̣n kẹt lại ở Việt Nam. Tôi không thể kư tên thật của ḿnh dưới các bài thơ đăng tải trên các báo xuất bản ở hải ngoại được. Bút hiệu HỒ CÔNG TÂM được khai sinh, đề dưới các bài thơ để tránh sự trả thù nhỏ nhen của nhà cầm quyền Cộng Sản đối với thân nhân của tôi lúc ấy đang c̣n nấn ná sinh sống ở Sài G̣n.
Khi đặt bút hiệu HỒ CÔNG TÂM, tôi nghĩ tới nhà văn KHÁI HƯNG (do tên thật của nhà văn là Trần KHÁNH GIƯ mà ghép thành) và nhà thơ THẾ LỮ (do tên thật của nhà thơ là Nguyễn THỨ LỄ mà ghép thành).
KHÁNH GIƯ = KHÁI HƯNG
THỨ LỄ = THẾ LỮ
Tôi lẩn thẩn ngồi lấy bút giấy “chiết tự” như sau:
DO NGOC MINH
DO MINH => HO MIND
Chữ MIND (in English) có nghĩa là TÂM TRÍ
NGOC (Middle name) => CONG
Do đó có cái tên dài tḥng HO CONG TAM TRI, bỏ chữ TRÍ ở cuối đi th́ thành ra cái bút hiệu HỒ CÔNG TÂM vậy!
Cảm ơn quư vị đă bỏ th́ giờ quư báu để đọc mấy lời tự sự lẩm cẩm của tôi.
Austin, November 30, 2006
HỒ CÔNG TÂM
[aka Đỗ Ngọc Minh]
[Văn Học - Nghệ Thuật] [Trang chính]