Phải chăng Thiên Chúa để “sự kiện Ngô Quang Kiệt” diễn ra trong Năm
thánh của Giáo Hội Việt Nam là một món quà ân sủng – nói như đức cha
Kiệt trong lá thư từ biệt: “Tôi ra đi thì có lợi cho Tổng Giáo phận
Hà Nội”, giúp Giáo Hội sống trọn vẹn tinh thần của Năm thánh: “sám
hối và canh tân.”
Những gì đang diễn ra liên quan tới sự ra đi của đức cha Giuse Ngô
Quang Kiệt trong những tháng qua, dù có đau buồn, nhưng cách nào đó
đã đặt Giáo hội Việt Nam trong một chọn lựa sống còn. Giáo hội không
thể cứ mãi làm ngơ trước vận mệnh của đất nước, của dân tộc, cũng
như không thể làm ngơ trước sự ác ngày càng dấn sâu của chế độ
chuyên chính bạo quyền.
-
Kỳ 9- – Phản ứng của giáo dân và cách hành động tự đào hố chôn mình của HĐGMVN
-
-
Gần bốn tháng đã trôi qua kể từ cái ngày đức cha Giuse Ngô Quang
Kiệt ra đi trong đêm tối, đến nay không tin tức, ngoại trừ lá thư
ngài viết vội kính gửi cộng đoàn Dân Chúa. Đó cũng là bốn tháng của
biết bao biến động đang đẩy Giáo hội Việt Nam tới một khúc quanh
mới.
Có thể nói rằng, chưa bao giờ trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, người giáo dân Việt Nam lại mạnh mẽ bày tỏ cảm xúc thất vọng của mình đối với các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam như những tháng ngày qua.
Nhiều người đã tỏ vẻ thất vọng về cách hành xử của các vị lãnh đạo Giáo Hội khi cứ mãi im lặng trước những bất công đang ngày càng tràn lan trong xã hội.
Người khác mong Giáo hội, đặc biệt các vị lãnh đạo Giáo hội, phải tức khắc đưa ra những quan điểm chính thống để cộng đồng Dân Chúa tìm được sự thật “thực” về sự kiện Ngô Quang Kiệt.
Nói chung, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đang tạo ra một bầu khí hoang mang, lan tỏa trong đời sống Giáo hội ngay cả ở nơi thượng tầng kiến trúc của Giáo hội là các vị Giám mục thuộc HĐGMVN.
Trong suốt bốn tháng qua, đã có nhiều diễn giải xung quanh sự kiện
có một không hai này. Điều dễ nhận thấy là sự kiện Đức cha Ngô Quang
Kiệt phải rời chức vụ và âm thầm ra đi trong đêm tối, chứa chấp cả
một “mầu nhiệm” không thể hiểu nổi. Sự kiện ấy được bắt đầu từ cái
nghị quyết quái đản của chính quyền Hà Nội, đư
ợc
thực hiện bằng một kịch bản công phu, dưới sự dẫn dắt và thực hiện
của một “dàn đồng ca áo tím”, với những bước đi ngoại giao, và đã
kết thúc trong nước mắt của những ai thiện chí, yêu mến, khát khao
được sống một tinh thần Ngô Quang Kiệt.
Cốt lõi của vấn đề, của những bức xúc của người giáo dân với các vị lãnh đạo Giáo hội trong những tháng ngày qua, chắc chắn không bởi những bức xúc cá nhân, những toan tính con người, cũng không phải bởi “có một thế lực đang muốn phá Giáo hội” như có người cạn nghĩ, hay bởi có mối tư thù với các vị lãnh đạo Giáo hội, mà tất cả xuất phát từ lòng yêu mến Giáo hội – một Giáo hội Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền.
Trong bối cảnh của những cảm xúc lẫn lộn, với những phản ứng khác
nhau;
trong bối cảnh có nhiều diễn giải về sự kiện Ngô Quang Kiệt như vậy,
thiết tưởng đã tới lúc cần đặt lại sự kiện Ngô Quang Kiệt dưới cái
nhìn đức tin, trong hành trình lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, để
thấy đâu là con đường Chúa muốn Giáo hội Việt Nam bước đi, hôm nay,
lúc này, giữa xã hội này.
Sự kiện Ngô Quang Kiệt một cơ hội sám hối
Tại Thánh lễ Khai mạc năm Thánh 2010, HĐGMVN: Lạy Chúa, Giáo Hội Chúa thiết lập là Giáo Hội duy nhất, nhưng chúng con đã làm rách tấm áo hiệp nhất của Chúa. Chúng tôi xin lỗi mọi thành phần xã hội, tôn giáo, vì chúng tôi đã chưa đủ hòa mình và đồng hành. Chúng tôi xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật, đau khổ vì chúng tôi chưa đủ quan tâm. Những lời này phải chăng chỉ là "Nghi thức" của HĐGMVN?
Việc đức cha Ngô Quang Kiệt phải rời khỏi chức vụ và phải ra đi cách âm thầm trong Năm thánh, là một nỗi đau gây choáng váng cho mọi thành phần Dân Chúa, nhưng có lẽ đó lại là cơ may để một lần Giáo Hội Việt Nam nhìn lại mình, từ hàng giám mục, linh mục, tu sĩ cho tới người giáo dân.
Có thể nói rằng, nhờ sự ra đi đầy đau khổ của Đức cha Kiệt mà Giáo
hội Việt Nam mới có cơ hội thấy được sự thật “thực” về một Giáo Hội
Việt Nam mất hiệp thông từ thượng tầng kiến trúc, chỉ “đồng cảm chứ
không đồng thuận” trong việc cất lên tiếng nói của công lý và hòa
bình.
Cũng vậy, nhờ sự ra đi của Đức cha Ngô Quang kiệt Kiệt, mà người giáo dân lần đầu được chứng kiến một Giáo Hội đang dần bị quốc doanh hóa, xa rời quần chúng. Nếu không có sự kiện Ngô Quang Kiệt, có lẽ, những cuộc rước như ở giáo xứ Dị Nậu – giáo phận Hưng Hóa, còn lâu mới được biết tới.
Phải chăng Thiên Chúa để “sự kiện Ngô Quang Kiệt” diễn ra trong Năm thánh của Giáo Hội Việt Nam là một món quà ân sủng – nói như Đức cha Kiệt trong lá thư từ biệt: “Tôi ra đi thì có lợi cho Tổng Giáo phận Hà Nội”, giúp Giáo Hội sống trọn vẹn tinh thần của Năm thánh: “sám hối và canh tân.”
Những gì đang diễn ra liên quan tới sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt trong những tháng qua, dù có đau buồn, nhưng cách nào đó đã đặt Giáo hội Việt Nam trong một chọn lựa sống còn. Giáo hội không thể cứ mãi làm ngơ trước vận mệnh của đất nước, của dân tộc, cũng như không thể làm ngơ trước sự ác ngày càng dấn sâu của chế độ chuyên chính bạo quyền.
Những gì đang diễn ra – những sự thật đang dần được bạch hóa, không chỉ giúp mọi thành phần trong Giáo hội nhận ra sự thật, mà còn góp phần tích cực thánh hóa Giáo hội cho mỗi ngày một tinh tuyền hơn.
Sự kiện Ngô Quang Kiệt hóa ra lại là một hồng ân, một cơ hội để sám hối.
Sự kiện Ngô Quang Kiệt một dấu chỉ của thời đại?
Tuy nhiên, để công cuộc sám hối ấy mang đầy đủ ý nghĩa, có lẽ điều cần thiết là phải tìm xem, Thiên Chúa muốn nói gì qua “sự kiện Ngô Quang Kiệt” và đâu là dấu chỉ của Chúa qua sự kiện có một không hai này?
Trong niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người. Ngài đã bước chân vào lịch sử nhân loại, biến lịch sử ấy thành nơi chỗ biểu lộ vinh quang Ngài và là nơi để con người gặp Chúa và gặp nhau. Vì thế, mọi biến cố vui buồn xảy ra trong lịch sử, tất yếu phải được đặt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, để tìm ra ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa thể hiện qua các biến cố của thời cuộc và qua các chứng nhân.
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam gần 500 năm qua, với các mốc lịch
sử 350 thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong, 50 năm
thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, thì hình như, sứ mạng đồng hành
với Dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn còn đang trong quá
trình mò mẫm. Ngoài những đóng góp thấy được cho xã hội, cho tới giờ
này, tinh thần Kitô giáo vẫn chưa được đại bộ phận người dân Việt
Nam chấp nhận, đó là chưa kể còn rất nhiều người ngoài công giáo tỏ
vẻ dè dặt mỗi khi nhắc tới Công giáo.
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này thì nhiều: chiến tranh liên miên khiến Giáo hội phải tìm cách để tồn tại mỗi khi một chính thể mới xuất hiện; xung đột văn hóa; tệ hại nhất là do chính sách bài tôn giáo với những tuyên truyền tàn độc của chế độ cộng sản vô thần… Bên cạnh đó, cũng không loại trừ Giáo hội Công giáo vì lý tưởng tồn tại được là may, nên đã chấp nhận đứng bên lề dân tộc bỏ mặc người dân bị “đánh nhừ tử” bên vệ đường.
Thực tế chứng minh cho thấy, kể từ năm 1980 – lần đầu tiên HĐGM toàn quốc nhóm họp, cho tới nay, trong các Văn kiện, Thư chung của HĐGMVN – tiếng nói chính thức của HĐGMVN, thì hầu như nội dung “rất chung chung” có thể áp dụng cho mọi kỳ đại hội, chỉ cần thay năm ban hành và người ký.
Đối với các vấn đề xã hội đang gây nhức nhối lòng người, trước các
bất công đang ngày càng chất đầy mà nạn nhân là những người
dân thấp cổ bé họng, Giáo hội hầu như im lặng, đôi khi còn thỏa hiệp
với chính quyền.
Trong một bối cảnh xã hội như thế, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã có những tác động nhất định trong đời sống của xã hội và Giáo Hội.
Tôn
giáo là Quyền, chứ không phải là ân huệ xin - cho
Phong trào thắp nến cầu nguyện mà ngài phát động đã lan tỏa nhanh chóng tạo nên một bầu khí sinh hoạt phượng tự mới, một xã hội dân sự bắt đầu manh nha, tác động ít nhiều tới cơ cấu tổ chức xã hội.
Có thể nói, trong một xã hội đầy bất công dưới sự cai trị độc tài cộng sản, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã phần nào tạo nên một hy vọng cho những con người thấp cổ bé họng, không thể tự mình cất lên tiếng nói và nhất là đã khiến công chúng nói chung thấy được một Giáo hội của Chúa Kitô đang can đảm, dõng dạc cất lên tiếng nói cho một nền Hòa bình và Công lý được xây dựng trên tình thương và sự tha thứ.
Nếu sứ mạng của Giáo hội là đến với những người cùng khổ, những
người bị “đánh nhừ tử vứt bên vệ đường”, nếu sứ mạng của Giáo Hội là
tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu: “Sinh ra và đến trong thế gian
này là để làm chứng cho sự thật” (Ga 18, 37), thì tiếng nói cho
sự thật mà Đức cha Ngô Quang Kiệt đã cùng cộng đồng Dân Chúa dõng
dạc cất lên giữa lòng thủ đô, chắc chắn đó là điều Thiên Chúa muốn
mời gọi Giáo hội Chúa bước đi hôm nay, lúc này, ngay giữa lòng một
xã hội đang bị chủ nghĩa vô thần khuynh đảo, tìm cách bóp nghẹt
lương tâm con người.
Gần 500 năm qua, Giáo Hội Việt Nam, vì hoàn cảnh lịch sử cách này cách khác, đã không quan tâm đủ tới những con người cùng khổ, đã không đồng hành với dân tộc, thì đây chính là lúc và là cơ hội để cất tiếng nói. Đây là lúc để thể hiện tâm tình sám hối một cách cụ thể và sống động nhất như Giáo hội đã tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh.
Tạm kết luận
Sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng trong đức tin, thì lại là cơ hội Chúa muốn dùng để tái công bố cho Giáo hội Việt Nam đường đi của Tin Mừng: “Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37).
Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng không thể làm cho thất vọng, bởi Thiên Chúa, với quyền năng và tình yêu vẫn thường hay biến sự dữ ra sự lành, chính Ngài sẽ làm cho thành tựu những lời Ngài đã hứa: “Quyền lực tử thần” dù mạnh đến đâu cũng không thể thắng được.
Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng Thiên Chúa, cách này cách khác, đang tiếp tục ra tay can thiệp để thanh tẩy và thánh hóa Giáo hội, giúp Giáo hội hoàn tất sứ mạng ngôn sứ của mình.
Vì thế, đã tới lúc, mọi thành phần trong Giáo hội Việt Nam cần phải nhìn lại mình, để thành tâm sám hối tội lỗi, quay về với Thiên Chúa – Đấng là nguồn mạch của sự thật và sự thiện, để cùng nhau cất lên tiếng nói của sự thật. Chỉ có như thế, Giáo hội mới có cơ hội thực hiện đầy đủ và ý nghĩa nhất ước nguyện sám hối và ước nguyện “cùng đồng hành với Dân tộc” mà cả Giáo hội Việt Nam đã long trọng tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh, bên mộ các Thánh Tử đạo Việt Nam.
27/7/2010
An Dân
