Tết nhớ nhà

 

 

“Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

                           Lư Bạch

   

Lư Bạch ngồi nh́n trăng sáng, rồi nằm xuống, kê đầu lên gối mà nhớ nhà. Tiếng Tàu: vọng là trông, xem.

 

Đêm nay mồng hai Tết, không có trăng, nhưng ở xứ nầy, tuyết mênh mông. Ngoài vườn, ngoài đường, các mái nhà quanh xóm, đâu cũng tuyết. May mắn, đêm nay tuyết không xuống, mưa không rơi, trời khô nên sáng. Tuyết phản chiếu ánh sáng của bầu trời nên trời sáng lên, tưởng như có trăng non vậy.

 

Nằm không yên, tôi ra ngồi bên cửa sổ rộng, - “bay window” – đặt thêm cái ḷ sưởi điện nhỏ bên cạnh cho đỡ lạnh. Việc nầy làm tôi nhớ cái “lồng ấp” của “mạ” tôi. “Mạ” tôi thường dùng vào những ngày quá lạnh, gió Bấc thổi vi vu qua những hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hăn.

 

“Đêm nay trời lạnh lắm,

Quê nhà có lạnh không?

Nhớ người nằm dưới mộ,

Mênh mông tuyết giá buồn”

 

Em đi mười năm nhỉ,

Ta vẫn c̣n ngồi đây!

Trơ thân làm tượng đá

Đá vương vạn giọt sầu...

 

Nhớ người nằm dưới mộ  là nhớ Thu Hường đấy. Nghĩa trang xứ Mỹ nầy được chăm sóc kỹ, đẹp lắm. Nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, mênh mông tuyết là tuyết.

 

Những ngày gần “đi”, tôi và các con đưa cô ấy đi t́m nơi yên nghĩ ngàn đời. Nơi Hường nằm bây giờ đẹp lắm. Đó là một ḥn đảo, chung quanh là một ḍng sông uốn quanh, h́nh ṿng tṛn, nối liền với đất liền bằng một con đập.

 

Tôi đưa Hường ra chỗ đất gần bờ sông, nói: “Chỗ nầy đẹp đây. Buồn th́ ra bờ sông ngồi chơi, như anh với em ngày xưa ngồi bên sông Thạch Hăn vậy. Bên kia là Highway 290, xe cộ chạy liền liền, nh́n cũng vui. Đâu đến nỗi cô quanh.

 

Hường nói: Chỗ nầy em cũng ưa, nhưng mùa đông tuyết phủ đầy, lạnh lắm”.

 

Tôi biết tính vợ, làm thinh, không nói, sợ cô ta bị “sốc”. Lên xe rồi, tôi cầm lái, cô ấy ngồi bên cạnh, các con gái ngồi phía sau. Tôi nói, với mọi người:

 

Má sợ mùa đông ngoài nầy lạnh. Mai mốt, Má “đi” rồi, ḿnh đem má về ở trong nhà. Ba năm mới đem má ra đây. Lúc đó, ba cũng tới kỳ rồi. Ba đi với má ra nằm nghĩa địa, trời lạnh, có nhau cũng ấm ḷng.”

 

Hường nghe nói, có vẻ vui. Có tôi bên cạnh mà!

 

Vậy mà tôi thờ tro cốt của Hường ở trong nhà đến 4 năm mới đưa cô ấy ra nghĩa trang, trễ một năm như đă hẹn với ḷng. Thương quá, không muốn đưa cô ấy đi sớm, sợ cô ấy lạnh!

 

Mà tôi th́ tới bây giờ vẫn c̣n sống nhăn. Mười năm rồi c̣n ǵ!!!! Cô ấy vẫn một ḿnh ngoài nầy.

 

Chuyện nhà, bao giờ tôi cũng lo hết ḷng cho vui ḷng mọi người trong gia đ́nh: Mẹ, các anh chị em, vợ con... Nhớ lại chuyện hồi c̣n đi học, ḷng không thấy vui.

 

Năm học Lớp Nhất với ông Hồ Đắc Hanh, ông cho học bài “Mă Viện”. Câu nói của ông tướng Tàu nầy làm tôi băn khoăn:  “Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ th́ có hay ǵ?

 

Thầy Hồ Đắc Hanh, sau khi nhập ngũ, hy sinh bên kia sông Thạch Hăn, chết cháy trong M-113, thăng cố đại tá.

 

Lại nhớ hồi nhỏ đóng kịch với Nguyễn Cẩm, - em đại tá Bé – Trong trại tù, Cẩm nổi tiếng “vua “cát-xô” -. Tôi với nó giành nhau đóng vai Kinh Kha. Khi ở đảo Bidong, viết thư cho Cẩm, tôi nhắc chuyện cũ bằng hai câu thơ:

 

“Kinh kha ngày ấy c̣n ngu dại,

Chưa bước chân đi đă nhớ nhà.

 

Cũng xin kể một chuyện cũ, “làm anh hùng” nữa.

 

Năm 1957, nhân dịp “Kỷ niệm 61 năm trường Quốc học”, tôi lại đóng kịch chơi. Nguyễn Hữu Châu Phan làm đạo diễn, biểu tôi đóng vai Hạng Vơ trong vở kịch thơ “Tiếng địch sông Ô” của Phạm Huy Thông, chị Lê Thị Thảo đóng vai Ngu Cơ. Bọn tôi mấy đứa phải tới nhà chị Thảo, năn nỉ, chị mới chịu đóng kịch đấy. Bạn học Phạm Hữu Lương, - em bác sĩ Phạm Biểu Tâm, - dẫn tôi ra rạp hát Bà Tuần ở đường Ngă Giữa để mượn áo quần hát bội mà đóng kịch. Kết quả: Hạng Vơ bị chê  “ốm quá”, “bạch diện thư sinh.” Nguyễn Hữu Châu Phan chọn lộn người.

 

Cái tính ngông cuồng của thời niên thiếu xa rồi.

 

Nói cho cùng, đời tôi chẳng ra cái ǵ cả, chẳng được cái ǵ cả. 30 tháng Tư: Đem vợ con bỏ chạy. 7 năm tù cải tạo về: Trốn vượt biên.

 

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Anh cả tôi bị Tây thủ tiêu ở Huế năm 1949, v́ tội “làm Việt Minh”, khi mới 21 tuổi. 23 năm sau, 1972, mẹ tôi mất đứa con trai út: Hùng tử trận ở gần Ga Xe Lửa Quảng Trị v́ “đem quân về chiếm lại quê hương.” Năm ấy Hùng 28 tuổi.

 

Anh em như vậy!

Đâu có ai như tôi... “Cơm cha áo mẹ công thầy...”

 

Nói vui vậy thôi. Năm ngoái đây, các con làm lễ đại thọ cho ba, 90 tuổi. Con người càng già, thường ngó lại quá khứ. Tôi chẳng có ǵ để ngó lại, nhưng những người “Quảng Trị tui” như tôi, mỗi năm 365 ngày, ít ra cũng có trên dưới 300 ngày để nhớ quê cũ.

 

Quê cũ tôi, chẳng c̣n ǵ để tôi nhớ. Nhà không c̣n. Chỗ đất cũ, “ai” dựng lên đó một cái nhà lầu cao. Đứng ngoài nh́n vào, không dám vô để coi ai ở trên đất nhà cũ của ḿnh, sợ lỡ ông ta lấcn bộ, ổng nghĩ rằng tôi về để đ̣i nhà, ổng kêu Công An th́... “bỏ mẹ”.

 

Ra đứng bên bờ sông Thạch Hăn, tôi nh́n ḍng sông nay đă cạn dần, bỗng nhớ câu thơ của Trần Tế Xương:

         

                   Sông kia rày đă nên đồng

                   Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

                   Đêm nghe tiếng ếch bên tai,

                   Giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣.

 

Mai mốt đây, con sông cạn đổi ḍng. Nó sẽ nhập với sông Bàu Vịt mà đổ nước ra sông Ái Tử, để cùng nhau trôi ra Biển Đông. Ai đó, - v́ khi đó, tôi đă ra người thiên cổ -, sẽ đọc lại câu văn của Tô Hoài trong “Xóm Giếng ngày xưa”: “Nó đă xa đi rồi, con sông vui vẻ. Nó đem nước giỡn vào những cánh đồng xa lạ khác, để cái ngơ tre ngơ ngác đứng lại một bên bờ...” Bấy giờ, “thành cổ Quảng Trị” sẽ đóng vai cái ngơ tre ngơ ngác trông theo ḍng sông Thạch Hăn.

 

“Tôi sinh ra bên bờ sông Thạch Hăn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hăn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hăn. Sông không c̣n th́ tất cả sẽ không c̣n, mà từ lâu, tôi cũng đă không c̣n.

 

          Sông Thạch Hăn!

          Không thể không nhớ tới mấy câu hát của Hoàng Thi Thơ.

 

Làng Bích Khê của ông, nằm dưới kia, qua khỏi khúc sông ngang nhà tôi,  cạnh Chùa Tỉnh Hội, một lúc là tới:

 

“Đường xưa lối cũ có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài.” Sông dài là sông Thạch Hăn, nối dài với sông Vĩnh Định, sông Cánh Ḥm, sông Hiếu Giang trên con đường “đi buôn đ̣ giọc” của người dân Quảng Trị/ Thừa Thiên. “Tiếng ca trên sông dài, phải chăng Hoàng Thi Thơ muốn nói  tiếng ḥ mái đẩy, mái nh́ của những chuyến đ̣ giọc, người mẹ từng than:

 

          Mẹ già cuốc đất trồng tiêu,

     Con theo đ̣ giọc mẹ liều con hư.

 

Hoàng Thi Thơ có những bài hát rất thật, rất đáng yêu khi ông theo kháng chiến.

 

Khi Thanh Nga dạy ở Trường Tiểu Học Đại Hào, buổi chiều tôi thường xuống đón cô ta về. Chúng tôi quen nhau v́ “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi”.

 

Trên con “đường cửa Việt” về tỉnh, đạp xe song song, có khi tôi hát “bóng nâu in đường trăng”, mặc dù mấy năm trước, cô ta học trường Đồng Khánh, chẳng mặc áo nâu bao giờ. Phải chi những hôm đó, có trăng lên sớm, từ hướng Biển Đông th́ vui hơn nhiều.

 

Nga là đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, chết trong một trận đánh xảy ra ở làng cô, tỉnh Quảng Nam. Ông quận trưởng đến thăm làng, khi lửa đạn không c̣n. Thấy “con bé mười tuổi” đứng khóc một ḿnh, ông động ḷng, đem “con bé” về cho vợ nuôi. Nga lớn lên và gặp tôi khi cô làm cô giáo.

 

Thế rồi tôi đi xa, mối t́nh chưa bắt đầu đă vội xa nhau. Mặc dù quê tôi không thiếu vườn dâu, vườn khoai để chúng “níu tay anh, níu chân anh” v́ muốn tôi ở lại chăng?

 

Mười năm sau, khi tôi đă xa Nga rồi, Nga lấy chồng, chồng lại tử trận.

 

Ai nói chiến tranh “đại thắng” là “vinh quang”, là vui, là không buồn, là không nghiệt ngă, đau đớn cho sông Thạch Hăn và những người như tôi, uống nước sông Thjach Hăn từ khi c̣n thơ ấu.

 

 

hoànglonghải

mồng 3 Tết/ Bính Ngọ  

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính